lamatibet

Cõi tâm linh của đời người

External image


Dù là bậc trí giả hay chỉ là kẻ trí đoản thì ai ai cũng đến lúc phải nhận thức rằng đời người luôn gặp những bế tắc, mà dù thông minh hay giàu sang, quyền lực đến mấy, cũng đều bất lực, không thể giải quyết được. Đến lúc đó, hầu như mọi người mới ngộ ra rằng cõi tâm linh chính là sự cứu rỗi cuối cùng của mỗi đời người.

Do Phật giáokhá phổ biến tại VN từ rất lâu, nên mỗi khi gặp chuyện đau buồn hoặc chuyện chẳng lành, hay chỉ là chán chuyện nhân thế, đa phần người Việt lại tìm đến cửa chùa để mong tìm sự cứu giúp, hoặc đơn giản hơn là chỉ tìm chút niềm an ủi từ các đấng từ bi đã theo chân chúng sinh suốt bao kiếp người.

Mỗi khi rời chùa, dù là Phật tử hay không cũng đều cảm thấy nhẹ lòng vì họ tin rằng cảnh khó và nỗi niềm đắng cay của mình chắc chắn đã được các đấng từ bi hỉ xả lắng nghe. Nếu mình cố gắng sống ngay lành rộng lượng sẽ sớm được độ trì giải thoát khỏi các khốn khó của cuộc đời.

Ngày nay, các ngôi chùa lớn nhỏ vẫn không ngừng được cất lên suốt từ Nam chí Bắc để đáp ứng nhu cầu tâm linh của không ít người. Không phải là một Phật tử nhưng tôi không là ngoại lệ. Mỗi khi gặp phải rắc rối về tinh thần hoặc cảm thấy lạc lõng trong một xã hội đang sống vội vã, tôi lại muốn tìm đến cõi tâm linh.

External image


Và nơi tôi mong muốn đến để được nhẹ lòng và tìm lại chính mình lại là những ngôi chùa ở Tây Tạng, nơi không chỉ có những du mục chân chất, mà còn có cả một trời thiên nhiên tinh khiết với bao ngọn núi phủ mềm tuyết trắng đến tận chân trời.

Chỉ có ở nơi này, tôi mới tìm được sự thanh thản và cảm giác yên bình. Trong những giây phút đó, tôi thấy tinh thần bớt đi ít nhiều sự mê muội mà đời sống phố thị không ngớt ám vào tâm trí những người đã sống lệ thuộc vào bầu không khí đó.

Bước chân lãng du đã đưa tôi đến với khá nhiều chùa miếu và đền đài ở Tây Tạng. Không chỉ là chốn tâm linh của dân trong vùng, các ngôi chùa còn là trung tâm văn hoá lưu giữ và phát triển nền văn hoá quý giá độc nhất vô nhị của Tây Tạng.

Đây là nơi mà mới chỉ vài thập niên trước vẫn còn cách biệt với thế giới bên ngoài. Cũng từ những ngôi chùa khoác một dáng vẻ thần bí này, tôi đã được quan sát, tiếp cận, rồi nhận thức sự khác biệt khá lớn trong đời sống Phật giáo Tây Tạng và Việt Nam.

Tây Tạng là vùng địa lý rộng lớn bao la nhưng dân cư lại cực kỳ thưa thớt cộng với địa hình hiểm trở khiến cho giao thông tại đây vẫn còn trong tình trạng khá khó khăn. Hầu hết các làng mạc trở nên cách biệt với thế giới bên ngoài. Tuy vậy, điều này dường như không hề có tác động gì đến đời sống tôn giáo của họ.

External image


Trong suốt ngàn năm qua, mọi người Tây Tạng ngay từ tấm bé đã được sống trong thế giới tâm linh của Phật giáo, từ trong gia đình và các chùa chiền mà bất cứ ngôi làng lớn nhỏ nào cũng có. Đó là chưa kể đến những hệ thống tu viện của các tông phái luôn hiện diện trong các vùng, từ thôn quê cho đến các thị trấn.

Nhờ vậy, hình thức sống của người Tây Tạng tuy đơn giản nhưng lại ít bị lệ thuộc vào những thứ không đáng phải trả giá quá đắt để có như các xã hội văn minh hiện đại khác. Ngược lại, tâm hồn và nhận thức về tôn giáo của họ lại vô cùng sâu sắc nhờ ít bị tác động và phân hoá bởi các luồng văn hoá lai căng đến từ bên ngoài như nhiều xã hội khác.

Tuy đời sống vật chất còn không ít khó khăn nhưng giá trị của đời sống tinh thần của họ lại được nâng cao. Ngược lại, đời sống vật chất hiện đại của chúng ta tuy ngày càng đầy đủ, thậm chí đối với không ít người đã trở nên thừa mứa, thì dường như đời sống nhân văn đang không ngừng đi xuống, khiến cho xã hội phải báo động!

Nếu không xem Bon như một tông phái Phật giáo (từ lâu tôn giáo tiền Phật giáo Bon cũng đã đưa Phật giáo làm nền tảng cho giáo lý của tông phái này), thì Tây Tạng chính thức có bốn tông phái Phật giáo: Nyingma, Kagyu, Sakya và Gelug.

Tuy có sự khác biệt đôi chút về giáo lý, nghi thức cũng như kiến trúc đền chùa, nhưng bốn tông phái này đều xây dựng và phát triển Phật giáo trên cùng một nền tảng và tôn chỉ nên lòng sùng tín Đức Phật của tín đồ các tông phái này lại giống nhau đến kỳ lạ.

Sau khi hoàn thành công việc thường nhật, họ lại đọc kinh tại nhà hoặc tu viện và thường xuyên đến chùa để vừa tụng kinh vừa xoay tròn các Mani luân rất lớn luôn hiện diện quanh các ngôi chùa, để cầu xin sự cứu rỗi cho chúng sinh. Họ làm những điều này hằng ngày vì đây chính là phần cốt yếu của mỗi đời người, chứ không phải để cầu xin tai qua nạn khỏi hoặc làm ăn phát tài…

External image


Mỗi khi cùng hoà mình vào với họ, rồi cũng xoay tròn các Mani luân, tôi lại có cảm giác như đang bước vào một thế giới khác, thế giới của thần linh, thế giới của những con người luôn cố gắng nhận chân mọi giá trị của kiếp nhân sinh.

Trong số hàng ngàn đền chùa nằm rải rác khắp xứ sở Tây Tạng, có không ít đền hoặc chùa rất nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả trên thế giới như: chùa Tháp Nhĩ Tự (Thanh Hải), đền Jokang (Lhasa), chùa Songzanling (Vân Nam), cung điện Potala (Lhasa)…

Đây đều là những nơi đã có hàng trăm năm lịch sử và là chốn linh thiêng đối với tín đồ Phật giáo Tây Tạng. Vì vậy, trong suốt hàng trăm năm qua, những nơi này hằng năm đều đón hàng trăm ngàn người Tây Tạng đủ mọi thành phần, nhiều nhất là dân du mục.

Có những người cách xa đến vài trăm cây số, lũ lượt cùng gia đình, mang theo những lều bằng vải hoặc da bò Yak, đi bộ hằng tháng trời đến đây với niềm tin là mọi nỗ lực hướng thiện sẽ được bù đắp không chỉ ở kiếp sau mà ngay ở kiếp này.

Trong một buổi uống trà, Trần Lương, một trí thức Trung Quốc thừa nhận là tín đồ Phật giáo Tây Tạng thích đóng góp tiền của dành dụm được cho các chùa chiền và tu viện để tìm những giá trị tinh thần.

Còn người Trung Quốc ngày nay lại chỉ thích tìm đến những giá trị vật chất, dù phải hy sinh nhiều giá trị tinh thần. Có lẽ vì vậy, họ khó tìm được sự đồng cảm và sẽ khó có thể cùng đi chung một con đường.

http://chuadieuphap.com.vn/content/tintuc_chitiet.php?catid=425&subcatid=0&newsid=1935&langid=0#.UMR7tHUYDkM.facebook

Ði Trắng Về Ðen

Xưa, có anh chàng thanh niên, đến nhà bạn chơi, lúc về gặp trời mưa ướt hết quần áo, chàng phải mượn y phục của bạn mặc rồi ra về. 

Thấy chủ về con chó đã không mừng mà còn chạy ra cắn sủa ầm ỉ. Chàng trai tức giận cầm gậy định đánh chó, cha anh ta can: 

-         Ấy chớ! Không phải lỗi của nó đâu. Nếu con chó nhà ta đi đâu về màu lông trắng hóa thành đen thì con có đánh đuổi nó không hả? 

Em thân mến! 

Chỉ trách người thay đổi mà không thấy sự thay đổi của mình là một trong những chuyện thường xảy ra ở cái trần gian điên đảo này. Có lẽ vì vậy mà cổ nhân đã để lại cho ta một lời khuyên thật khôn ngoan: 

“Trách người một trách ta mười

Bởi ta tệ trước nên người bạc sau.”


http://www.hoalinhthoai.com/buddhistbook/detail/book-130/index-2523/Hu-Hu-Luc-01.html

Vô Minh Từ Ðâu Ra?

Sư Bất Không cùng vua Ðường Ðại Tông đang bàn luận Phật pháp thì quan hầu Ngũ Triều Ân xen vô hỏi: 

-Phật bảo tất cả chúng sanh đều là Phật thì vô minh từ đâu ra? 

Sư gạt ngang: 

-Ông không được phép hỏi câu đó. 

Triều Ân nghe xong giận đỏ mặt. 

Thiền sư mỉm cười: 

-Vô minh từ đó mà ra.

Hư Hư Lục

"Hãy bảo vệ Lhasa"

GNO - Dự án xây dựng gần ngôi chùa Jokhang - ngôi chùa thiêng liêng và quan trọng nhất ở Tây Tạng - có liên quan đến việc xây dựng một trung tâm mua sắm 150.000 m2 và một bãi đậu xe ngầm ở trung tâm của thành phố cổ.

External image

Lhasa (Tây Tạng)

Báo cáo cho biết chính phủ Trung Quốc có kế hoạch di dời các chủ tiệm và người dân trong khu vực để xây dựng những cửa hàng mới nhằm thu hút các doanh nghiệp mới bao gồm nhà hàng, quán bar, và phòng trưng bày nghệ thuật.

“Lhasa đang bị hủy hoại bởi sự phát triển thương mại quá mức”, nhà văn Tây Tạng Tsering Woeser, hiện đang sống ở Bắc Kinh nhưng đã lớn lên ở Lhasa (Tây Tạng) viết trong một bức thư sau khi đến thăm khu vực này. Ông nói: “Hãy bảo vệ Lhasa”.

“Lhasa không tồn tại chỉ để dành cho khách du lịch”, nhà văn Tây Tạng viết. “Có những con người thực sự đang sống ở đây và nó cũng là một nơi của tôn giáo”.

Jokhang, được xây dựng khoảng năm 642, là ngôi chùa đầu tiên của Tây Tạng và là địa điểm hành hương tối quan trọng của khách hành hương Tây Tạng.

Tu viện là một phần mở rộng của Cung điện Potala, là cung điện mùa đông của Đức Dalai Lama. Cả hai đều là di sản UNESCO.

Những khu vực "hiện đại hóa” của Trung Quốc - bao gồm cả di sản của UNESCO - đã bị “chỉ trích vì quá thương mại hóa và đã đánh đi mất linh hồn của nó sau khi nhiều cư dân định cư ban đầu di chuyển ra khỏi nơi đây”.

Văn Công Hưng (Theo Business Insider)

http://giacngo.vn/phatgiaonuocngoai/2013/06/17/32524A/

Giới thiệu sách

Tái Sinh Ở Phương Tây

“Tái sinh ở phương Tây” là một thiên phóng sự hấp dẫn và đầy lôi cuốn đi tìm về những bí ẩn đằng sau những câu chuyện về các bậc tái sinh. Trong thời đại thông tin vô cùng phong phú và đa dạng như hiện nay, những câu chuyện về tái sinh nổi bật lên vì sự thu hút và hấp dẫn. Lần đầu tiên phương Tây biết về “những vị thầy tái sinh” đang xuất hiện ở phương Tây - cả phụ nữ và đàn ông những người đã trải qua những pháp thiền giúp họ có khả năng hướng tâm thức của họ tới thời gian của cái chết và lựa chọn tái sinh theo ý muốn của mình. Đạt được những thành tựu tâm linh đó, họ quyết định trở lại thế gian vì một lý do duy nhất - giúp đỡ tất cả nhân loại đạt được sự tự do tối thượng như họ.

Nhà báo Vicki đã đi tới tìm tòi những tầng tâm thức thâm sâu. Cô đã khám phá ra những vị tái sinh này, cách nào mà họ được công nhận, và thông điệp của họ/nhiệm vụ tối thượng của họ khi quay trở lại với loài người là gì. Ngoài ra, cô cũng nghiên cứu sâu hơn về những phát hiện của những người phương Tây trong hiện tượng kiếp trước - kiếp sau.“Tái sinh ở phương Tây” cho thấy cách mà chúng ta có thể thấy mình sống hơn một cuộc đời, và tất cả những tầng lớp thâm sâu của trí óc. Để làm được điều này thì người ta lại quay trở lại với cuộc tranh cãi rất lớn trong giới khoa học - bản chất của nhận thức và của trí óc.

http://nhasachphuongnam.com/index.php?dispatch=products.view&product_id=54552&same_product_page=6&publisher_ids=100&same_publishers_page=2

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA ĐÀM LUẬN VỚI TẠP CHÍ PHÒNG VỆ VÀ CẢNH BÁO AN NINH - ẤN ĐỘ

Một cuộc phỏng vấn hiếm hoi và cởi mở với Đức Đạt Lai Lạt Ma và Nhà xuất bản và biên tập viên điều hành của tạp chí DSA (phòng vệ và cảnh báo an ninh), ngài đã nói về chiều dài bao quát đối với tình trạng của Tây Tạng và nó tiến triển như thế nào qua năm tháng, cũng như những trạng huống khả dĩ cho những sự phát triển tương lai. Lòng bi mẫn vô hạn và cảm nhận sâu xa của ngài đối với quê hương và đồng bào của ngài hiện hữu thật rõ ràng trong cuộc phỏng vấn rộng rãi này.

DSA: Đang có những báo cáo đáng lo âu về những tu sĩ Tây Tạng đã tự thiêu phản kháng lại sự tàn bạo của Bắc Kinh. Tình trạng hiện tại ra sao ở Tây Tạng và ngài nghĩ nó sẽ được hướng theo cách nào? ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Những sự kiện mới đây thật rất đáng buồn. Tuy nhiên chúng là triệu chứng của tất cả những gì mà Bắc Kinh đã làm ở Tây Tạng trong hơn sáu mươi năm qua. Chính sách của Bắc Kinh dao động giữa những thời điểm khoan dung tiếp theo bằng sự kiểm soát và đàn áp tàn nhẫn. Sự tàn bạo đặc biệt tệ hại ở những vùng Kham và Amdo. Trung Cộng xâm chiếm năm 1949 - 50. Từ 1956 về sau đã có một sự đàn áp quân sự và gia tăng cường độ quan trọng. Hàng nghìn người bị bắt giam, nhiều người bị tra tấn và bị giết. Thế hệ ấy gần như đã qua. Trong những năm 1960 có cuộc Cách Mạng Văn Hóa như đã thấy một làn sóng trấn áp mới mà trong ấy các tu viện bị tàn phá và bôi nhọ. Sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa - mọi thứ đã trở nên tương đối khá hơn một chút. Hồ Diệu Bang thực hiện một chính sách mềm dẽo. Suy nghĩ của ông ta thực tiển hơn. Ông thực tế đã xin lỗi những lỗi lầm quá khứ và ngay cả nói rằng họ muốn giảm thiểu dân số người Hán ở Tây Tạng. Tuy nhiên trong giữa những năm 1980, ông Hồ Diệu Bang bị thất sủng. Chen Kuiyan một Bí thư Đảng Ủy cứng rắn đã đến khu tự trị Tây Tạng và một cuộc bán cách mạng văn hóa đã được bắt đầu. Điều này gieo hạt giống cho khủng hoảng năm 2008. Rồi thì đến một bí thư khác Zang Qingli. Ông này tàn bạo và công khai đề cập rằng, “những ai cần bị bắt và bỏ tù sẽ bị bỏ tù. Những ai cần giết, sẽ bị giết.” Họ đã giết hại một cách tàn nhẫn những người tị nạn cố gắng vượt thoát đến Ấn Độ và Nepal. Một nhà leo núi người Romani đã quay cảnh lính biên phòng Trung Cộng bắn người tị nạn không vũ khí. Việc học tập những kinh luận cổ truyền của Tây Tạng bị cấm chỉ, chi những sách phiên dịch từ sách vở Trung Hoa mới được đọc. Việc học tập chính trị trong những tu viện và ni viện được tăng cường. Người ta được bảo phê phán Đạt Lai Lạt Ma. Người dân bị thúc ép để đặt hình ảnh của Mao lên bàn thờ của họ. Người ta bị yêu cầu yêu mến một đảng phái đã và đang tiêu diệt tôn giáo của họ - Giáo pháp của họ. Chỉ cán bộ nhà nước có thể áp đặt những nghị định cấm chỉ học sinh và những thẻ chính thức thăm viếng đền chùa. Điều này đã phát sinh phẩn nộ dữ dội và bùng nổ khủng hoảng 2008. Việc đàn áp đã gia tăng cường độ. Những lãnh đạo người Hoa địa phương đã đưa các phóng viên đến Tu viện. Những chùa viện Mahakala theo truyền thống chưng bày những vũ khí và đao kiếm truyền thống. Những thứ này được đưa ra cho phương tiện truyền thông như vũ khí đã được sử dụng bởi những người Tây Tạng và được dùng để biện minh cho sự đàn áp và khổ đau ở Tây Tạng. Đã có một cố gắng có hệ thống để đè nén văn hóa và ngôn ngữ Tây Tạng. Ba năm trước đây, một tờ báo chính thức của Trung Cộng đã đề cập rằng việc học vấn bằng tiếng Tây Tạng nên chỉ được hạn chế với một môn ngôn ngữ; tất cả những môn khác phải được dạy bằng tiếng Hoa. Các học sinh đã nổi giận và nổ ra những cuộc biểu tình phản kháng. Các nhà giáo và trí thức Tây Tạng đã có những cuộc nói chuyện với nhà cầm quyền Trung Cộng và đề nghị rằng phải cần có thời gian và chuẩn bị để chuyển đổi sang chính sách này. Trung Cộng đã thẳng thừng và nói nó sẽ không được.. Họ thường từ bỏ trong những tuyên bố chính sách của họ bất cứ khi nào thích hợp với họ. Họ tuyên bố một chính sách đặc thù ở Tây Tạng nhưng thường làm ngược lại. Họ thường dùng những phương tiện đa dạng để đàn áp tinh thần vá cá tính Tây Tạng nhưng đã hoàn toàn thất bại. Bất cứ khi nào người Tây Tạng là đa số, họ thấy đấy như những người ly khai. Họ đang đưa nhiều người Hán di cư đến Tây Tạng. Một số người Tây Tạng thiển cận đang bán đất đai của họ với giá cao. Người Hoa bây giờ đã vượt hơn người Tạng ở khu đô thị trung tâm, thí dụ ở Lhasa ngày nay có dân số khoảng 3,00,000 (?). Trong đây gần như hai phần ba là người Hán. Tình trạng như vậy là tương tự trong những thị trấn khác nhưu Shigaste, v.v… Chỉ ở vùng thôn quê mới có đa số là người Tạng du mục. Thật bất hạnh, có một chính sách có hệ thống loại trừ văn hóa và ngôn ngữ Tây Tạng và xóa sổ đặc tính Tây Tạng. Chúng tôi có văn tự riêng của chúng tôi. Mẫu tự là Ấn Độ. Cố gắng để xóa bỏ tất cả những thứ ấy là một vấn đề nghiêm trọng. Quốc gia cổ xưa của chúng tôi với một nền văn hóa đặc thù đang chết. Nếu những chính sách đàn áp của Trung Cộng tiếp tục, thì nó sẽ thật sự là một vấn đề nghiêm trọng. Người Tạng là môn nhân của những đạo sư Ấn. Một cách tự nhiên trong quá khứ, mặc dù những khó khăn về độ cao và khí hậu, hàng nghìn người Tạng từ Tây Tạng đã thường sang Ấn Độ đề hành hương. Không có ai đã đi đến Trung Hoa. Một cách tinh thần, tâm linh và cảm xúc người Tây Tạng gần gũi với Ấn Độ nhiều hơn. Bạn có thể nói rằng dân tộc Tây Tạng, trong thực tế, là sự phòng vệ hàng đầu của Ấn Độ. Hoàn toàn hợp lý để thực hiện những nổ lực để bảo tồn nền văn hóa hòa bình , từ bi, và bất bạo động của chúng tôi. Ngay cả Trung Hoa ngày nay cũng cần nền văn hóa hòa bình và bất bạo động của chúng tôi. Theo một cuộc thăm dò có khoảng ba trăm triệu người Trung Hoa là Phật tử. Trong số này có khoảng nửa triệu là Phật tử Tây Tạng. Một số người Phật tử Trung Hoa đã hỏi tôi về khái niệm Pháp Vương (Dharma Raja). Phật tử khắp nơi phải nghiên cứu về những phẩm chất của một vị Pháp Vương và thẩm tra xem những ai tự xưng là Pháp Vương có đủ điều kiện không. Bất hạnh thay, Phật tử ở Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và những quốc gia khác trì tụng kinh điển mà không biết ý nghĩa. Hình thức thuần khiết của Đạo Phật Na Lan Đà đã chỉ được bảo tồn ở Tây Tạng. Sự bảo tồn nền văn hóa này không chỉ quan trọng đối với sáu triệu người Tây Tạng mà cũng cho những người ở Ấn Độ và toàn thể thế giới. Ấn Độ là một quốc gia dân chủ đông dân nhất thế giới. Ấn Độ sau khi độc lập là một quốc gia ổn định nhất. Hãy xem truyền thống tư tưởng tâm linh và triết lý phong phú của nó,v.v… Ấn Độ đã thích nghi rất tốt đẹp với dân chủ, pháp trị và tự do ngôn luận. Sự hòa hiệp tôn giáo là một truyền thống cổ xưa của đất nước này. Điều này quan trọng rất nhiều với thế giới ngày nay. Hiện nay có nhiều xung đột nhân danh tôn giáo. Truyền thống hòa hiệp tôn giáo hàng nghìn năm của Ấn Độ là rất cần đến. DSA: Tây Tạng là tháp nước của Á châu. Từ đây Trung Hoa kiểm soát lưu lượng của tất cả những con sông quan trọng của Á châu - một cách đặc biệt những con sông chảy ra phía Nam và Đông Nam Á châu. Ngài có cảm thấy Trung Cộng đã xâm chiếm Tây Tạng bị thúc đẩy bởi tham vọng này để nắm chặc vùng đất cao của Á châu và do thế kiểm soát dòng nước của Á châu không? Ngài có cảm thấy Trung Cộng sẽ thay đổi dòng chảy của sông Brahmaputra không? Chính phủ lưu vong Tây Tạng có bất cứ tin tức cụ thể nào về chương trình của Bắc Kinh đối với việc này không? ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Trong năm 1961, Altakin, thành viên của Phong Trào Đông Turkistan Độc Lập đã đến Ấn Độ tham dự cuộc gặp gở Á - Phi đã được khởi đầu bởi Jai Prakash Narain[1]. Ông đã gặp tôi sau đó và nói với tôi về những chương trình của Bắc Kinh về việc thay đổi dòng chảy của sông Brahmaputra, trong cái nhìn về sự khan hiếm nước nghiêm trọng ở Bắc Trung Hoa. Vào lúc ấy tôi nghĩ sự tiên đoán của ông ta là phóng đại. Tuy nhiên, bây giờ trong những năm gần đây, sự cảnh báo của ông ta dường như đang biến thành sự thật. Bắc Kinh đang khai thác những tài nguyên phong phú ở Tây Tạng đến tận đáy. Việc xây dựng đường sắt Gormo-Lhasa phục vụ để nhấn mạnh sự khai thác kinh tế ở Tây Tạng. Mục tiêu không chỉ kinh tế, nó là chính trị và quân sự trong bản chất. Ôn Gia Bảo đã nói mới đây trên đài BBC và tôi trích, “Không có sự cải tổ chính trị thì không thể tiếp tục đổi mới kinh tế và đạt được sự gia tăng những gì chúng ta đã làm được thì chúng ta có thể thất bại. Không có sự cải tổ thảm họa Cách Mạng Văn Hóa có thể xảy ra trở lại. Cải tổ phải tiến về phía trước. Dừng lại hay trở lại là vô ích.” Vì vậy Thủ Tướng Trung Hoa và một số nhà trí thức đã cảm thấy rằng Trung Hoa cần cởi mở hơn. Nguyên tác: Exclusive Interview with His Holiness The Dalai Lama

Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Cách Làm Một Hạt Ngọc Trai

Em có biết người Nhật Bản họ làm một hạt ngọc trai như thế nào không?

-  Họ lấy một con dao nhỏ thật sắc, rạch bụng con trai ra, bỏ vào đấy một hạt cát và khâu lại.  Xong, họ thả con trai ấy vào một cái hồ chứa đầy nước biển. 

Những con trai sau khi lãnh một hạt cát vào trong bụng như thế, có thể lâm vào hai trường hợp sau: 

1-     Những con trai yếu đuối sẽ chết vì vết thương làm độc.

2-     Những con còn lại, sau một thời gian đau đớn oằn oại vì vết thương, sẽ tiết ra một chất nhờn để bao bọc hạt cát đang nằm sâu trong da thịt. 

Hạt ngọc trai được thành hình từ đó.

Còn chúng ta, cuộc đời cũng đã mổ bụng ta và nhét vào đấy những niềm sầu nỗi khổ.

Nếu chúng ta cứ than van hờn trách thì ta sẽ chết lần chết mòn như những con trai yếu đuối nọ. 

Ngược lại, nếu ngay trong những nghịch cảnh oái ăm ấy mà chúng ta biết tiết ra một chất thức tỉnh thì một vị Phật được bắt đầu như thế đó em ạ!

Mạng Ðền Mạng

Xưa có bác thợ hồ đang lúi húi xây một bức tường cao thì bỗng trợt chân té nhàu. Sau khi quay lộn đi mấy vòng, bác rơi trúng một khách bộ hành đang đi phía dưới. Kết cuộc là bác thợ hồ bình an vô sự còn người bộ hành thì gãy cổ chết. Gia đình nạn nhân liền đâm đơn kiện. Quan huyện xử bác thợ hồ phải bỏ tiền ra mai táng nạn nhân. Thân nhân người chết không bằng lòng, nhất định bắt đương sự phải “mạng đền mạng.” Quan huyện liền phán: 

-  Thế thì gã thợ hồ phải chết theo cách thức mà hắn đã giết người. Lần nàychính hắn phải đứng dưới đường, gia đình nạn nhân cử một người leo lên bứctường và nhảy xuống đầu hắn để hắn gãy cổ chết mà đền tội. 

Thân nhân người chết liền bãi nại.