hoàng sa trường sa

Hòa nhạc gây quỹ tấm lòng vàng-Nghĩa tình Hoàng Sa -Trường Sa

Hòa nhạc gây quỹ tấm lòng vàng-Nghĩa tình Hoàng Sa -Trường Sa

Tập trung cho chủ đề nhạc phim, “Những giai điệu khó quên” mang đến cho khán giả những ca khúc, những bản hòa tấu trong những bộ phim nổi tiếng, một số nhạc phẩm kinh điển và quen thuộc với khán giả Việt Nam cũng như thế giới.

Người xem có dịp thưởng thức lại một loạt các tác phẩm đình đám một thời: “A time for us” (trong phim Romeo & Juliet), “Unchained melody” (phim The Ghost), “My heat will go…

View On WordPress

Cần nói rõ về Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam

- Đây không phải là việc làm vô căn cứ hay đứng về một quốc gia nào của những người ngoại quốc từng sinh sống tại nước ta, mà đó là sự đánh giá và phản ánh khách quan tình hình thực tế về việc thực hiện chủ quyền của chính quyền cụ thể trên Hoàng Sa Trường Sa.

Trong các sách chính sử của triều Nguyễn, hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa được phản ánh rất rõ ràng về chủ quyền của vương triều Nguyễn đối với hai quần đảo này. Điều đó được chứng minh bằng những việc làm cụ thể của vương triều Nguyễn. Không những các sách chính sử của triều Nguyễn, ngay cả những người ngoại quốc từng kinh qua nước ta thời kỳ bấy giờ cũng khẳng định hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Đại Việt. Điểm qua, chúng ta thấy rằng đây là những đánh giá rất khách quan và có tính chân thật lịch sử.
 

Đảo Đá Lớn. Ảnh: Bội Ngọc

Đầu tiên phải kể đến bộ “Hải ngoại Ký sự” viết năm 1696 của nhà sử học Thích Đại Sán, ông là một nhà sư đồng thời cũng là nhà sử học lỗi lạc của Trung Quốc. Dưới triều vua Khang Hy (nhà Thanh), ông đã đến Việt Nam và kinh lý vào vùng đất phía Nam dưới sự quản lý của chúa Nguyễn Phúc Chu. Thích Đại Sán được nhiều người biết đến khi có nhiều nghiên cứu quan hệ quốc tế của Đại Việt vào thế kỷ XV-XVII. Trong hành trình tại nước ta, Thích Đại Sán đã đi qua nhiều nơi và ghi lại những địa danh, trong đó có “Vạn lý Trường Sa”.

Trong quyển 3, bộ “Hải ngoại Ký sự”, Thích Đại Sán có chép một đoạn như sau: “Khách có người bảo mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng độ nửa tháng trước và sau ngày lập thu. Chừng ấy, gió Tây Nam thổi mạnh, chậy một lèo gió xuôi chừng 4-5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần thổi lên, nước chảy về hướng  Đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi dòng nước chảy mạnh về phía Đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn.

Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển,  chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam, động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành. Bãi cáy rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cây cỏ nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió trái nước dẫu không tan nát cũng không gạo, không nước thì trở thành ma đói mà thôi. Khoảng cách đến Đại Việt là 7 canh đường, 7 canh đường khoảng 700 dặm. Các quốc vương Đại Việt thời trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào. Mùa thu nước dòng cạn rút về hướng Đông bị một ngọn sóng đưa đi, thuyền có thể trôi xa hàng trăm dặm, gặp khi gió mạnh, càng sợ hiểm họa Hoàng Sa Trường Sa”.

Có thể thấy, Thích Đại Sán đã miêu tả rất rõ ràng về “Vạn lý Trường Sa”, ông cũng khẳng định đây là địa phận thuộc chủ quyền của Đại Việt. Một điều chắc chắn là ông không thể nhầm lẫn đến mức đem chủ quyền lãnh thổ của nước mình mà đưa vào địa phận nước khác. Cũng trong “Hải ngoại Ký sự”, Thích Đại Sán đã phản ánh chân thực những hoạt động của cư dân Đại Việt trong hoạt động ra khơi tại “Vạn lý Trường Sa”. Bên cạnh đó, tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước không có quần đảo nào ghi là Hoàng Sa Trường Sa . Tất cả các bản đồ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam biên giới phía Nam của Trung Quốc, Hoàng Sa Trường Sa không có trong nội hải của Trung Quốc.

Không chỉ Thích Đại Sán, mà một số người phương Tây đã từng sinh sống tại nước ta cũng có những ghi chép những vấn đề liên quan đến Hoàng Sa Trường Sa, nổi bật trong số ấy là Giám mục Jean Louis Taberd, ông là một Giám mục người Pháp từng làm thông dịch viên cho vua Minh Mạng. Trong quá trình sinh sống tại nước ta, Jean Louis Taberd đã đi qua nhiều nơi, chính vì vậy ông đã dựa trên các căn cứ lịch sử vẽ thành một bản đồ có tên là “An Nam Đại quốc họa đồ”. Bản đồ này được xuất bản năm 1838 và là công trình có tính đầy đủ nhất địa lý của nước ta thời kỳ bấy giờ, trong đó khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels nằm trong lãnh hải Việt Nam. “An Nam Đại quốc họa đồ” là một tài liệu phản ánh sự tổng kết những hiểu biết sâu sắc và chính xác của người phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX về mối quan hệ giữa quần đảo Hoàng Sa và nước Đại Việt mà tác giả gọi là An Nam Đại quốc. “An Nam Đại quốc họa đồ” là một minh chứng xác thực về chủ quyền của nước ta với quần đảo Hoàng Sa thời kỳ bấy giờ.

Paracels là địa danh mà người phương Tây chỉ quần đảo ở biển Đông suốt thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX chính là Cát Vàng hay Hoàng Sa của Việt Nam. Trong bản đồ này ghi chú là “Paracels Seu Cát Vàng”. Cũng trong “An Nam Đại quốc họa đồ”, tại khu vực biển Đông không thấy xuất hiện đảo Hải Nam hay bất cứ địa danh nào trên biển của Trung Quốc và các nước khác mà chỉ có các đảo của Việt Nam. Từ đó cho thấy đây là bản đồ phản ánh địa lý nước ta một cách chính thống. “Paracels Seu Cát Vàng” là một ghi chú và giải thích rất đầy đủ. Từ Seu (tiếng Latin) là “có nghĩa là”, “Cát Vàng” (tiếng Nôm) tức là Hoàng Sa (tiếng Hán Việt). Đó là phản ánh rất khách quan và chính xác của Jean Louis Taberd bởi ông không có ý thiên vị cho bất cứ một bên nào, đơn giản đó là sự nghiêm túc đối với công việc mà ông đang làm. Điều này phản ánh sự hiểu biết về Hoàng Sa của người phương Tây rất chính xác.

Không những vậy, Jean Louis Taberd cũng ghi chép rất rõ ràng về “Paracels Seu Cát Vàng”, trong đó ông đã ghi cụ thể như sau: “Chúng tôi không đi vào việc liệt kê những hòn đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều hòn đảo nhỏ chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát đã được người Việt xứ Đàng Trong khai thác. Địa thế này khiến những người đi biển phải kinh sợ”. Ngoài ra, còn một số tài liệu khác của người phương Tây phản ánh về vấn đề này: Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1920) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền trên quần đảo Paracels; The Jaumal of the Geographycal Societi of  London (năm 1849) của Gutzlaff ghi chép chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels;…

Từ những ghi chép và đánh giá của những người ngoại quốc từng kinh lý qua lãnh thổ nước ta cho thấy rằng, Hoàng Sa Trường Sa thuộc về chủ quyền của nước ta thời bấy giờ. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong tác phẩm và ghi chép hành trình.

Cứ an tâm, đã có các Bác lo

Chủ tịch nước: ‘Đã đàm phán nảy lửa về chủ quyền Biển Đông'Trước ý kiến cử tri cho rằng Quốc hội “chưa phản ứng đủ liều” về vấn đề Biển Đông, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết, Việt Nam không chỉ có phản đối mà còn đàm phán nảy lửa với Trung Quốc.

Ngày 29/6, tại buổi tiếp xúc của đoàn đại biểu Quốc hội TP HCM với cử tri, ông Nguyễn Việt Hùng (quận 1) nêu, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định bằng mọi giá phải giữ được chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông đang ảnh hưởng trực tiếp đến ngư dân đánh bắt hàng ngày trên vùng biển thuộc Hoàng Sa và Trường Sa.

“Ngư dân phải vay ngân hàng để đóng tàu nhưng ra đó bị Trung Quốc làm hỏng tàu. Đảng và Nhà nước ta có chính sách hỗ trợ bà con ngư dân ra sao?”, cử tri Hùng đặt câu hỏi.

Cùng quan tâm vấn đề biển đảo, cử tri Hoàng Xuân Dương (quận 3) cho rằng, hai năm qua Trung Quốc liên tục xâm phạm chủ quyền nước ta. “Những nước ít liên quan hoặc không liên quan đã lên tiếng phản đối, còn ra hẳn Nghị quyết. Trong khi đó, Quốc hội Việt Nam là cơ quan đại diện cho tâm tư, nguyện vọng của dân mà vẫn chần chừ. Tại sao như vậy?”, ông Dương đặt câu hỏi.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tiếp xúc cử tri quận 1 và 3. Ảnh: H.C

Đồng tình, cử tri Nguyễn Hoài Nam (quận 1) cho rằng hành vi san lấp và xây đảo nhân tạo trái phép của Trung Quốc hết sức nguy hiểm, đề nghị Quốc hội phải ra nghị quyết về Biển Đông vào kỳ họp tới.

Trao đổi với các cử tri, Chủ tịch nước chia sẻ, bà con chưa hài lòng rằng Quốc hội phản ứng chưa đủ liều là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, Việt Nam không phải chỉ phản đối mà còn đàm phán nảy lửa với Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông. “Song phương, đa phương cũng làm rất dữ. Lãnh đạo cấp cao cũng tham gia, không phải đơn giản chỉ là anh phát ngôn hàm vụ trưởng phát biểu thôi đâu, mà cả hệ thống chính trị cùng làm việc”, Chủ tịch nước nói.

Theo Chủ tịch nước, việc hỗ trợ ngư dân Trung ương đã làm từ lâu, chăm lo đời sống cho ngư dân là một trong những trọng tâm lớn.

“Tôi đã đi thăm một số tỉnh ven biển, số tàu được đóng mới, được cải hóa tăng công suất mỗi năm mỗi tăng. Đây là điều đáng mừng. Chính phủ cũng bỏ ra mười mấy nghìn tỷ để hỗ trợ ngư dân đóng mới tàu với lãi suất ưu đãi”, Chủ tịch nước nói và cho biết tàu bè của ngư dân bị thiệt hại đều được giúp đỡ rất kịp thời từ phía Chính phủ, doanh nghiệp và địa phương.Không có trường hợp nào để ngư dân phải “tự bơi”.

Một vấn đề khác trong buổi tiếp xúc cử tri, ông Nguyễn Hữu Vạn đề nghị các đại biểu hãy “vi hành” đến các quán cà phê, chợ để nghe và hiểu đời sống dân vì khoảng cách giữa đại biểu và người dân quá xa nhau. “Tôi đến Văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội gửi đơn thì không nhận trực tiếp mà bảo về gửi qua bưu điện. Tôi gửi 3 lần, 6 tháng nhưng không thấy hồi âm. Làm như thế thì xa dân chứ còn gì?”, ông Vạn nói.

Nói về khoảng cách giữa cử tri với đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước chia sẻ: “Mình cũng là dân chứ có gì đâu. Bỏ áo mũ cân đai thì là dân thôi mà. Có gì đâu xa cách”. Theo Chủ tịch nước, mỗi khi tiếp xúc cử tri, đa phần là các bí thư chi bộ, trưởng khu phố, không thể 100% là người dân nhưng tại sao những người đại diện tổ dân phố, chi bộ của mình lại không mạnh dạn công khai những bức xúc của dân.

“Ngày xưa chiến đấu, địch tra tấn dã man cỡ nào ta không sợ, sao giờ ta với ta lại sợ. Đó là điều hết sức vô lý. Hay chăng có lợi ích gì đó, rồi chỉ cho cử tri phản ảnh những vấn đề tốt, chung chung. Hay sợ bị trù dập, mất ghế mà ém những chuyện xấu, không tốt ở địa phương?”, Chủ tịch nước nói.

Quốc tế phản đối Trung Quốc thay đổi nguyên trạng Biển Đông
Chiều 27.6 (giờ địa phương), đông đảo bạn bè quốc tế cùng sinh viên, Việt kiều đã tụ họp tại khu vực quảng trường Liên Hiệp Quốc tại thành phố Geneva (Thụy Sĩ), để cùng tham gia diễu hành, ký kháng thư phản đối Trung Quốc thay đổi nguyên trạng Biển Đông.

Đại diện cho giới trẻ, anh Lưu Vĩnh Toàn, Phó chủ tịch Hội Thanh niên Việt Nam tại Thụy Sĩ, đã có bài phát biểu nhấn mạnh đến các cơ sở pháp lý và các bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền hợp pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và từ rất lâu đời của Việt Nam. Các hoạt động của Trung Quốc xây dựng, bồi lấp làm thay đổi nguyên trạng các quần thể đảo ở Trường Sa trên Biển Đông là điều nhân dân Việt Nam, cộng đồng quốc tế không thể chấp nhận. Bà Anjuska Weil, Chủ tịch Hội Hữu nghị Thụy Sĩ - Việt Nam, cho rằng: “Các nước trên thế giới cần hiểu rõ bản chất của vấn đề là Trung Quốc đang đe dọa tới hòa bình, an ninh khu vực và thế giới; bên cạnh việc cần ủng hộ VN trong công cuộc giữ gìn chủ quyền lãnh thổ, cũng cần lên tiếng vì hòa bình và công lý, vì một thế giới không có chiến tranh”. Bà Bea Camara (người Thụy Sĩ, đang sinh sống tại thành phố Zurich) cho biết bà đã lặn lội hơn 300 km đến đây để thể hiện tình đoàn kết và ủng hộ nhân dân Việt Nam. Bà cảm thấy bức xúc trước các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông. Trong một diễn biến khác, Kyodo News ngày 28.6 đưa tin các quan chức cấp cao của Bộ ngoại giao Mỹ, Nhật và Ấn Độ vừa tổ chức đối thoại 3 bên lần thứ 7 tại Hawaii để thảo luận về an ninh biển và nhiều vấn đề khu vực khác. Trong đó, nội dung được chú trọng là hợp tác 3 bên trong việc bảo đảm an ninh biển. Hiện nay, các vùng biển châu Á đang chứng kiến nhiều biến động an ninh, chủ yếu xuất phát từ các hành động của Trung Quốc, đặc biệt là việc xây đắp phi pháp ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
118 tác phẩm được trao giải báo chí quốc gia

Tin tuc – Các tác phẩm đoạt giải được đánh giá cao bởi tính thời sự, ảnh hưởng đến xã hội, trong đó có nhiều tác phẩm về chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa, cuộc giải cứu công nhân trong hầm Đạ Dâng (Lâm Đồng).

Tối 21/6, lễ trao giải báo chí quốc gia năm 2014 diễn ra tại Hà Nội, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày báo chí cách mạng Việt Nam. Trong số 1.468 tác phẩm dự thi, Ban tổ chức đã lựa chọn được 177 tác phẩm vào vòng chung khảo và 118 tác phẩm đoạt giải, gồm: 9 giải A, 26 giải B, 54 giải C và 29 giải khuyến khích.

9 giải A là những tác phẩm xuất sắc về chủ quyền biển đảo Việt Nam, được ghi từ “tọa độ nóng” Hoàng Sa trong sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam hồi tháng 5/2014; giải cứu thành công 12 công nhân gặp nạn ở hầm thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng)…

Nhiều tác phẩm đạt giải báo chí quốc gia được ghi nhận từ sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam hồi tháng 5/2014. Ảnh: An ninh hinh su

Phát biểu tại lễ trao giải, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc mừng các tác giả đoạt giải báo chí năm 2014 và khẳng định những tác phẩm báo chí xuất sắc là đóng góp thiết thực của đội ngũ người làm báo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Chủ tịch nước đề nghị báo chí phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, bảo vệ công lý, phê phán, đấu tranh với cái xấu, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế. “Báo chí cần phản ánh chân thực tình hình đất nước, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân, là tiếng nói của nhân dân, cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước”, Chủ tịch nói.

Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam Và Mãi Như Thế


Việt Nam có đầy đủ những chứng cứ lịch sử xác định chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa. Cần nhanh chóng phổ biến những tài liệu đó ra cộng đồng quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ của những người yêu chuộng hòa bình trên khắp năm châu và ngay tại chính Trung Quốc.

Ngay sau khi VnExpress đăng bài Bản đồ Trung Quốc ghi đảo Hải Nam là cực nam, đông đảo ý kiến của độc giả cho rằng cần nhanh chóng công bố tài liệu quan trọng này rộng rãi ra thế giới để chứng minh chủ quyền biển đảo của nước ta.

Độc giả Nguyễn Thiện Trường bày tỏ: “ Tôi vô cùng cảm ơn tiến sĩ Mai Hồng, tấm bản đồ cổ của nhà Thanh (Trung Quốc) do ông sưu tầm, gìn giữ và trao lại cho Bảo tàng Quốc gia Việt Nam là một tài sản vô giá, đây là báu vật quốc gia, cần phải bảo vệ, bảo quản giữ gìn nghiêm ngặt”.

“Kính đề nghị Nhà nước, Chính phủ cho phép và tạo mọi điều kiện để các cơ quan truyền thông công bố tấm bản đồ này cùng với nội dung của nó ra nhiều thứ tiếng. Cần khẩn trương đăng tải để không chỉ nhân dân Trung Quốc mà toàn thể thế giới biết được càng sớm càng tốt. Đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ của toàn thế giới đối với chúng ta. Cần in tấm bản đồ này kèm lời thuyết minh và gửi đến các tổ chức quốc tế càng sớm càng tốt”.

Còn bạn đọc Việt Hưng thốt lên: “Đây đúng là báu vật, tấm bản đồ là minh chứng hùng hồn, chứng minh rằng Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam. Nên công bố trên toàn thế giới bằng nhiều thứ tiếng”.

“Ngoài ra, cũng nên tranh thủ sự đóng góp của tất cả các nhà sưu tầm, nhà khoa học trên thế giới về những cứ liệu minh chứng Hoàng Sa Trường Sa của Việt nam” – độc giả này kêu gọi.

Độc giả Nguyễn Quang Huy thì cho rằng: “Hiện nay nhiều người dân Trung Quốc vẫn luôn nghĩ Trường Sa Hoàng Sa là của họ, vì vậy chúng ta cần nhanh chóng tuyên truyền sâu rộng khắp Trung Quốc để nhân dân của họ biết rõ. Vì tôi tin, người Trung Quốc họ cũng có trái tim và lý trí”.

Nhiều bạn đọc khác kiến nghị nên chụp tấm bản đồ này với độ phân giải cao và phổ biến trên Internet, bên cạnh đó chúng ta cũng phải dịch ra nhiều thứ tiếng để tất cả mọi người trên thế giới đều đọc được.

Độc giả Phạm Phú Quốc lại lo lắng cho sự an nguy của tấm bản đồ: “ Đây là một tài liệu quý giá, cần phải canh giữ nghiêm ngặt để tránh việc kẻ gian đánh cắp hoặc phá hỏng. Tấm bản đồ là chứng minh chủ quyền không thể chối cãi của nước ta đối với Hoàng Sa Trường Sa. Chúng ta cần phải công bố rộng rãi để nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới biết và ủng hộ”.

Bạn đọc Trần Thiên Ân - một sinh viên trẻ góp ý: “ Xin trân trọng cám ơn tiến sĩ đã có công sưu tầm và gìn giữ một tài liệu quý cho đất nước, cá nhân tôi mong muốn các tổ chức thanh niên, sinh viên liên kết với các viện bảo tàng giúp phổ biến hiện tình và các chứng cứ pháp lý để khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam”.

Trung Quốc lần đầu dùng máy bay không người lái giám sát Biển Đông

Trung Quốc lần đầu dùng máy bay không người lái giám sát Biển Đông

Tàu Hải giám 2168. Ảnh: Sina Trang mạng Sina hôm qua cho biết chiếc tàu Trung Quốc sử dụng máy bay không người lái thực hiện nhiệm vụ tuần tra trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là tàu Hải giám 2168 do lực lượng chấp pháp tỉnh Hải Nam quản lý. Trên thân máy bay không người lái có đề dòng chữ “giám sát vùng biển”. Máy bay được gắn camera độ phân giải cao, có thể quan…

View On WordPress

Mặt trận ‘mềm’

Chiều 25.6, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao VN, ông Lê Hải Bình, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao VN, cho biết Đại sứ quán VN tại Trung Quốc đang làm rõ việc nước này bắt giữ trái phép và ép ngư dân VN ký vào văn bản công nhận chủ quyền vô lý của Trung Quốc đối với Biển Đông, quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa của VN.

Có lẽ, không cần làm rõ, thì nếu ai tìm hiểu về Biển Đông cũng chẳng lấy làm lạ nếu Bắc Kinh thực thi một chính sách như vậy. Bởi thực tế suốt những năm gần đây, Bắc Kinh từng có không ít chiêu trò, thậm chí rất hèn hạ, để tìm cách kiểm soát Biển Đông và hợp lý hóa tuyên bố chủ quyền phi lý mà họ đưa ra. Bằng chứng là Trung Quốc từng tìm cách đưa vào các bản đồ khoa học thể hiện thông tin Biển Đông của Bắc Kinh, hay bắt in bản đồ tương tự trên hộ chiếu của những người xin thị thực vào Trung Quốc, chuyển các quả địa cầu với chủ quyền phi pháp vào VN… Rất nhiều và rất nhiều chiêu trò khó có thể liệt kê hết.

Ai cũng hiểu, các hành vi như vậy của Trung Quốc như một dạng kiến tạo sức mạnh “mềm” bên cạnh các hoạt động “cứng” như cải tạo đảo, tăng cường tuần tra kiểm soát, đe dọa ngư dân VN trên Biển Đông. Hai thứ sức mạnh mềm và cứng cuối cùng chỉ nhằm đạt được tham vọng thâu tóm Biển Đông.

Gần một năm trước, Trung Quốc hạ đặt trái phép dàn khoan Haiyang Shiyou-  981 (Hải Dương-981) trên Biển Đông đã khiến cả thế giới bất bình. Thậm chí, Thượng viện Mỹ phải thông qua một nghị quyết để lên án hành động của Bắc Kinh. Tuy nhiên, cũng vào thời điểm trên, tại Washington D.C, nhiều chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (Mỹ) nhắc tôi rằng sức ép quốc tế chỉ là một phần. Phần quan trọng vẫn là ý chí và sự quyết tâm của người VN trước các hành động trái phép và phi lý của Trung Quốc. Bởi đơn giản, chính người dân sẽ hình thành nên sức mạnh vững chãi để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, chúng ta từng có không ít bài học như thế. Những năm qua, chúng ta đã rất rõ ràng khi ứng xử với các hành động “cứng” của Trung Quốc trên Biển Đông. Tuy nhiên, điều đó là chưa đủ. Chúng ta cũng cần kiến tạo một mặt trận “mềm” để bảo vệ chủ quyền hợp pháp của VN trên Biển Đông. Việc kiến tạo đó không gì bằng nếu chúng ta trang bị đầy đủ thông tin và kiến thức cho từng người dân, bất kể đó là sinh viên, doanh nhân, nhân viên văn phòng hay ngư dân, nông dân. Khi từng người dân đều hiểu rõ chủ quyền của quốc gia thì VN sẽ có hàng triệu chiến sĩ bất khuất, như bao ngư dân không ký thừa nhận chủ quyền phi lý Trung Quốc áp đặt trên Biển Đông, trên mặt trận “mềm” mà Bắc Kinh đang cố hình thành. Tuy nhiên, để làm được điều đó, vấn đề minh bạch thông tin về chủ quyền biển đảo cần được ưu tiên. Đó chính là vũ khí để mỗi người dân là một chiến sĩ bảo vệ chủ quyền hợp pháp của Tổ quốc.

Chào ngày mới 21 tháng 6

Chào ngày mới 21 tháng 6


CNM365. Chào ngày mới 21 tháng 6
. Wikipedia Ngày này năm xưa. Father’s Day (Ngày của cha); Việt NamNgày Báo chí cách mạng Việt Nam; Năm 2012 – Quốc hội Việt Nam thông qua luật Biển, trong đó khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Trường SaHoàng Sa; trong khi đó Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn thành lập thành phố Tam Sa với phạm vi bao trùm hai quần đảo này. Năm 2009 Greenland

View On WordPress

Lịch Sử Minh Chứng Hoàng Sa - Trường Sa Là Của Việt Nam

Nhiều sách địa lý, bản đồ và tài liệu cổ của Việt Nam ghi chép rõ Hoàng Sa Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam. 

Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Nghĩa, xứ Quảng Nam: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng". “Họ Nguyễn”1 mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa mười tám chiếc thuyền đến lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”. 

Trong Giáp Ngọ bình nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam2

Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558 - 1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ lại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi. “Xã An Vĩnh”3, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có núi4 gọi là Cù Lao Ré rộng hơn 30 dặm5, có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hoá vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải". 

   Một chiếc thuyền mô phỏng thuyền của Đội Hoàng Sa thuở xưa, trưng bày tại Nhà trưng bày 
      Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).   Ảnh: Đặng Hải

Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam vẽ vào khoảng năm 1838, ghi “Hoàng Sa” – “Vạn Lý Trường Sa“ thuộc lãnh thổ Việt Nam. 

Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc sử quán nhà Nguyễn (1802 – 1845) soạn xong năm 18826 ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Nghĩa. Đoạn nói về hình thể tỉnh Quảng Nghĩa, cuốn sách viết: “Phía Đông có đảo cát - đảo Hoàng Sa - liền với biển làm hào; phía Tây là miền sơn man, có lũy dài vững vàng; phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chặn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn”. 

Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam. 

Một giáo sĩ phương Tây đi trên tàu Amphitrile từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam”7

J.B. Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú thích bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine8 : “Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh”9… một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành…”10

Giám mục J.L. Taberd, trong bài “Ghi chép về địa lý nước Cochinchine” xuất bản năm 1837, cũng mô tả “Pracel hay Paracels" là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “Cát Vàng"11. Trong An Nam đại quốc họa đồ xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi “Paracel hay Cát Vàng" (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay12

Trong bài “Địa lý vương quốc Cochinchina”13 của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là “Kát Vàng”. 

Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thập kỷ, nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hình và tài nguyên hai quần đảoHoàng Sa Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó. 

Trong Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII): “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm14 đến cửa Sa Vinh15 mỗi lần có gió Tây Nam thương thuyền các nước đi ở phía ngoài trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó”16

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776): “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi17 linh tinh hơn 130 hòn cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số tổ yến, các thứ chim có hàng ngàn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh, trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc hoa thì có tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được… Các thuyền ngoại phiên gặp bão thường bị hư hại18 ở đảo này… 

Đại Nam thực lục tiền biên, bộ sử về chúa Nguyễn do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1844, có đoạn viết: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, v.v…”. 

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882): “Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông Cù Lao Ré huyện Bình Sơn, từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn 130 đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hoá vật của các tàu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở đấy". 

Theo Đại Nam thực lục chính biên, bộ sử về nhà Nguyễn soạn xong năm 1848, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đo đạc vẽ bản đồ Hoàng Sa trở về, đội trưởng giám Trương Phúc Sĩ đã tâu với Vua Minh Mệnh rằng Hoàng Sa “là những bãi cát giữa biển, man mác không bờ bến”19

Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự. 

Do đặc điểm của Hoàng Sa Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử, địa lý và tài liệu cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó. 

Trong Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII): “Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”. 

Trong Phủ biên tạp lục (1776): “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu20 ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ở lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột ốc hoa, rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về ”…“ Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, Cù Lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hoá vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản". 

 

Thẻ tre, dây mây, bài gỗ, linh vị, chiếu cói của các binh phu Hoàng Sa thuở xưa, trưng bày
 tại Nhà trưng bày Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)
Ảnh: Đặng Hải

Trong Đại Nam thực lục tiền biên (1844): “Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm đi đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có độ Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh di thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”. 

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa. Trong số tư tiệu còn tìm thấy ngày nay, có thể kể tờ sai sau đây đề năm 1786 của quan Thượng tướng công: “Sai cai Hội Đức Hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác21, đồi mồi, hải ba cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”. Nghĩa là thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc khai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa. 

Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đại Nam thực lục chính biên (1848) chép rõ một số việc làm của các vua nhà Nguyễn củng cố chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo như sau: 

Năm 1815, vua Gia Long “cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển”22

Năm 1816, vua Gia Long “lệnh cho thuỷ quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển”23

Năm 1833, vua Minh Mệnh chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị thuyền để năm sau sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối24

Năm 1834, vua Minh Mệnh cử đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người ra Hoàng Sa vẽ bản đồ 25

Năm 1835, vua Minh Mệnh sai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính và thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định chuyên chở vật liệu đến Hoàng Sa dựng miếu. Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong26

Năm 1836, chuẩn y lời tâu của Bộ Công, vua Minh Mệnh sai suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ. Yêu cầu của công việc đo đạc, vẽ bản đồ đã được Đại Nam thực lục chính biên ghi lại rất chi tiết: “Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào phải tường tận đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình”27.

          Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). 
                                                             Ảnh: Đặng Hải

Đại Nam thực lục chính biên cũng chép rõ những bài gỗ mà Phạm Hữu Nhật mang theo để làm dấu chủ quyền đối với những nơi đã đến theo lệnh của nhà vua khắc những chữ sau đây: “Năm Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân (1836), thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”. 

Các vua Nguyễn không phải chỉ lo đến chủ quyền và quyền lợi của nước mình ở hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, mà còn lo bảo đảm an toàn cho tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của hai quần đảo đó. Năm 1833, vua Minh Mệnh bảo Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Nghĩa có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dư bị thuyền mành đến sang năm sẽ phái người tới đó… trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”28. Đó chính là ý thức trách nhiệm cao của một Nhà nước thật sự làm chủ quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đối với hàng hải quốc tế trong khu vực này. 

Như vậy, qua các sách lịch sử, địa lý và tài liệu cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây nói trên, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, hòa bình và liên tục. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc. Điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam. 

Trung Quốc phải trả vô điều kiện tàu cá Quảng Bình
* Làm rõ việc ngư dân VN bị ép ký văn bản công nhận chủ quyền vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông

Tại buổi họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao VN chiều 25.6, Người phát ngôn Lê Hải Bình cho biết Đại sứ quán (ĐSQ) VN tại Trung Quốc (TQ) đang tích cực làm rõ việc nước này bắt giữ trái phép và ép ngư dân VN ký vào văn bản công nhận chủ quyền vô lý của TQ đối với Biển Đông, quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa của VN.

Cụ thể, ngày 3.6 vừa qua, 3 tàu cá của ngư dân xã Quảng Phú, H.Quảng Trạch, Quảng Bình là QB 93401 TS (của ông Trần Tiến Dũng), QB 93480 TS (của ông Võ Văn Toàn) và  QB 93694 TS (của ông Võ Văn An) cùng xuất bến đi đánh cá. Khi đang hoạt động tại vùng biển cách đảo Hải Nam (thuộc TQ) khoảng trên 10 hải lý về phía tây nam thì bị 1 tàu hải quân và 3 tàu chụp mực TQ truy đuổi, áp sát. Sau khi điều khiển tàu chạy thoát, ông Dũng không liên lạc được với 2 tàu còn lại. Trạm ở bờ cũng không nhận được báo cáo vị trí của 2 con tàu kể trên gửi về. Trung tâm thông tin kiểm ngư, thuộc Cục Kiểm ngư, qua kiểm tra thiết bị kết nối vệ tinh lắp đặt trên tàu đã xác định QB 93694 TS và QB 93480 TS đang neo đậu tại vị trí thuộc cảng Tam Á, đảo Hải Nam. Nhận định 2 tàu cá này bị phía TQ bắt giữ nên Sở NN-PTNT cùng Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Quảng Bình gửi văn bản đề nghị các cấp, ngành có biện pháp hỗ trợ 17 ngư dân cùng 2 tàu cá nói trên.

Ngày 21.6, sau khi được thả về, ông An và ông Toàn kể đã bị phía TQ áp giải chạy về đảo Hải Nam neo đậu, sau đó bắt các thuyền viên ký vào các tờ giấy chữ TQ. Riêng 2 chủ tàu liên tục bị bịt mặt đưa đi xét hỏi riêng. Đặc biệt, có một lần nhiều người TQ mặc thường phục nói chỉ cần ký vào một tờ giấy thì sẽ được thả về bình thường. Ông Toàn cho hay, tờ giấy đó được viết bằng tiếng Việt có nội dung: Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của TQ. Thấy vô lý, ông Toàn nhất quyết không ký. Đến chiều ngày 17.6, 2 chủ tàu và các thuyền viên bị dồn lên tàu của ông Toàn, dắt ra biển thả về. Còn tàu ông An và toàn bộ ngư lưới cụ, hải sản trên 2 tàu đều bị thu giữ. Tài sản trên mỗi tàu bị TQ tịch thu trị giá hơn 200 triệu đồng. Các ngư dân đang phải đối mặt với nợ nần sau vụ bị TQ bắt giữ, tịch thu tài sản.

Trả lời câu hỏi của PV Thanh Niên đề nghị cho biết phản ứng của VN về việc này, ông Lê Hải Bình nói Bộ Ngoại giao đã chỉ đạo đại sứ quán VN tại TQ thăm lãnh sự đối với các ngư dân bị bắt giữ, đồng thời làm việc chặt chẽ với các cơ quan sở tại, yêu cầu phía TQ phải thả 17 ngư dân cùng 2 tàu cá của VN. Hiện, 17 ngư dân cùng tàu cá QB 93480 TS đã về nước an toàn. Đại sứ quán VN tại TQ vẫn đang tiếp tục yêu cầu phía TQ phải trả vô điều kiện tàu cá QB 93694 TS. “Về việc các ngư dân VN có bị phía TQ ép ký vào các văn bản công nhận chủ quyền Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa là của TQ hay không, Bộ Ngoại giao VN cũng đã chỉ đạo đại sứ quán VN tại TQ làm rõ để từ đó có những phản ứng thích hợp”, ông Lê Hải Bình nói.

Nhiều bằng chứng chứng minh Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam

Bức xúc của một nhà khoa học trước việc Trung Quốc bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa Trường Sa.

Quyết định của Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo, trong đó có quần đảo Tây Sa và Nam Sa, tức Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, là hành động ngang ngược, bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo ấy.

Luận điểm đầu tiên của chính quyền tỉnh Quảng Đông khi công khai khảo sát Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa vào năm 1909, là cho rằng quần đảo “Tây Sa” là đất vô chủ (res nullius), hải quân tỉnh Quảng Đông cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hoàng Sa năm 1909.

Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa Trường Sa vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc với sự đóng góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh Nhật Báo, 24-11-1975).

Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh, trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở biển Đông.

Bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn Hoàng Thanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18 độ 30 phút Bắc, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17 độ 5 phút. Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong khi đó, ngay tài liệu của chính người Trung Quốc như Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở Vạn Lý Trường Sa, tức Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.

Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục,năm 1776 của Lê Quý Đôn.

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.

Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa Trường Sa.

- Tài liệu rất quí giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.

- Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…

Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.

Bản đồ cổ phương Tây khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Khẳng định chủ quyền Việt Nam

TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội TP Đà Nẵng vừa hoàn thành đề tài Font tư liệu về chủ quyền Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa Trường Sa

TS. Sơn cho hay: Không chỉ các bản đồ cổ Việt Nam, Trung Quốc mà rất nhiều bản đồ cổ của phương Tây đều khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là củaViệt Nam.

Một trong những thành công lớn của nhóm nghiên cứu là sưu tầm được 56 tấm bản đồ phương Tây của font tư liệu này.

Các bản đồ này được vẽ rất sớm, như: Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ có niên đại vào nửa sau thế kỷ XVI… cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ XIX như: Bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891…

Tất cả đều thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền củaViệt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine… (tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây).

Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa Trường Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 thể hiện quần đảo Frael (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.

Trong bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645, quần đảo Frael (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo: Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong)…

Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam.

Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng khẳng định: Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi na, chỉ tên nước ta), TS. Sơn phân tích.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, hiện sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đặc biệt từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ.

Theo TS. Sơn, 56 bản đồ cổ phương Tây này được sưu tầm có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ.

Điều này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…).

“Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý… phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ. Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền” - ông Sơn nói.

Trung Quốc chưa bao giờ có Hoàng Sa Trường Sa

An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838.

Theo TS. Sơn, nhiều tấm bản đồ cổ phương Tây đang được lưu giữ tại các thư viện công và bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu và châu Mỹ. Trong đó phần lớnbản đồ mà nhóm nghiên cứu đề tài sưu tầm đều là bản đồ scan trực tiếp từ bản đồ gốc được đồng nghiệp là ông Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa giáo dụcViệt Nam (IVCE) tại Mỹ, đến các thư viện tại Mỹ để tìm kiếm, xin phép scan…

Qua ông Thắng, TS. Sơn vừa có thêm nhiều tấm bản đồ cổ của phương Tâyxuất bản trước và sau khi chính quyền Trung Quốc có những tuyên bố bất hợp pháp về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam vào năm 1909.

Trong số này có bản đồ China do Adam và Charles Black vẽ cho bộ sách The Encyclopaedia Britannica, do Nxb. Edinburgh ấn hành năm 1876, bản đồChina, ấn hành năm 1883, bản đồ China and Japan, ấn hành năm 1896; bản đồSiam and the Malay Archipelago do The Times Atlas (London, Anh) xuất bản năm 1896, bản đồ Route map showing from St. Petersburg to Guft of Tongking, ấn hành năm 1900…

“Điểm giống nhau giữa các bản đồ này là phần lãnh thổ Trung Quốc được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng của Trung Quốc, luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam. Khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa Trường Sa” - TS. Sơn nhấn mạnh.

Thêm Bằng Chứng Lịch Sử Hoàng Sa - Trường Sa Là Của Việt Nam
Những minh chứng chứng minh Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam Như chúng ta đã biết, ngày 25/7/2012, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tiếp nhận tấm bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do nhà Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm 1904 của Tiến sĩ Mai Ngọc Hồng trao tặng. Bản đồ này xác định đảo Hải Nam là điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc, có nghĩa là thừa nhận các quần đảo ở Biển Đông nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Để góp phần củng cố thêm cho luận điểm này, chúng tôi xin giới thiệu hình ảnh một số bản đồ Trung Quốc do người Trung Hoa và Nhật Bản vẽ và ấn hành từ năm 1850 đến năm 1939, trong đó chưa từng xác nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc. Một số bản đồ chúng tôi đã xác định được đầy đủ các thông tin về tác giả, nhà xuất bản, nơi xuất bản…, số còn lại chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm.

Bản đồ có tên “Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ” (二 京 十八省 總圖) trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ” (清二京十八省疆域全圖) in năm 1850.

Quảng Đông toàn đồ (廣東全圖)- Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là đảo Hải Nam trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ” (清二京十八省疆域全圖) in năm 1850.

“Đại Thanh đế quốc” (大清帝國) trong sách “Thanh đại địa đồ tập”, Thanh Quang Tự tam thập nhất niên (1905), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán biên ấn xuất bản (清代地图,清光绪三十一年(1905年,上海商务印书馆编印出版)

“Đại Thanh quốc toàn đồ” (大清國全圖) trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖), Tác giả: Y Điền Hùng Phủ (依田雄甫), Nhà xuất bản: Đông Kinh (Tokyo), Phú Sơn Phòng thư cục (東京:富山房書局), Năm xuất bản: Nhật Bản Minh Trị tứ thập niên ngũ nguyệt (日本明治四十年五月) (5-1907)

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với đảo Hải Nam trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖)

Bản đồ có tên “Đại Thanh đế quốc” (大清帝國) trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành (大清帝國全圖, 宣統元年,上海商務印書館)

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là đảo Hải Nam, trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành (大清帝國全圖, 宣統元年,上海商務印書館)

Bìa cuốn sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành” (大清帝國全圖, 宣統元年上海商務印書館)

Bản đồ có tên “Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú” (清國大地圖革命動亂地點注), Đại Bản (Osaka) Nhật Bản Tinh Bản ấn loát hợp tư hội xã phát hành, Minh Trị tứ thập tứ niên (大阪日本精版印刷合資會社印行, 明治 四十四年) - Bản đồ do người Nhật vẽ năm 1912 với cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, hiện lưu trữ tại Thư viện Đại học California tại Berkeley

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ (中華新形勢一覽圖), tác giả: Thượng Ngu, Đồ Tư Thông  (上虞, 屠思聰),Thượng Hải Thế giới dư địa học xã (上海世界輿地學社) phát hành năm 1926Bản đồvẽ cực Nam Trung Quốc đến tỉnh Hải Nam

Bìa cuốn sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ (中華新形勢一覽圖) của hai tác giảThượng Ngu và Đồ Tư Thông  (上虞, 屠思聰), Thượng Hải Thế giới dư địa học xã (上海世界輿地學社) phát hành năm 1926

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa Dân quốc phân tỉnh địa đồ sách” (中華民國分省地圖冊) xuất bản năm 1933

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa Dân quốc nhị thập tứ niên (1935) toàn quốc tỉnh khu” (中華民國二十四年全國省) cũng vẽ cực Nam Trung Quốc đến hết đảo Hải Nam

Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ ” (最新中華形勢一覽圖) in năm 1935

Bìa cuốn sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ” (最新中華形勢一覽圖) in năm 1935

Bản đồ có tên “Đại lục hình thế đồ” trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” (中國地圖冊) xuất bản năm 1939, Tác giả: Tùng Điền Thọ Nam (松田壽男) vẽ cực Nam Trung Quốc chỉ đến hết đảo Hải Nam

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” (中國地圖冊), xuất bản năm 1939 Tác giả: Tùng Điền Thọ Nam (松田壽男)
Qua Những Hình ảnh và minh chứng trên chứng tỏ Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam

Hình ảnh và chú thích: Chử Đình Phúc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Làm rõ thông tin ngư dân Việt bị Trung Quốc ép công nhận chủ quyền vô lý

(TNO) Tại buổi họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao Việt Nam, Người phát ngôn Lê Hải Bình cho biết, đang chỉ đạo Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc làm rõ việc nước này ép ngư dân Việt Nam ký vào các văn bản công nhận chủ quyền vô lý của Trung Quốc trên biển Đông. 

Trả lời câu hỏi của Thanh Niên Online về phản ứng của Việt Nam liên quan đến vụ việc 17 ngư dân ở tỉnh Quảng Ngãi cùng hai tàu cá QB 93694 TS và QB 93480 TS bị Trung Quốc bắt giữ vô lý khi đang đánh cá trên biển Đông, sau khi bắt giữ, phía Trung Quốc đã ép các ngư dân ký vào văn bản công nhận biển Đông, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa là của nước này, người phát ngôn Lê Hải Bình dẫn thông tin từ Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc cho biết, ngày 9.6 vừa qua, Cục Hải cảnh của Trung Quốc có thông báo bắt giữ 17 ngư dân cùng với 2 tàu cá là QB 93694 TS và QB 93480 TS. Sau khi có được thông tin này, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã chỉ đạo Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc thăm lãnh sự đối với các ngư dân bị bắt giữ. Đồng thời, làm việc chặt chẽ với các cơ quan sở tại, yêu cầu phía Trung Quốc phải thả 17 ngư dân cùng 2 tàu cá của Việt Nam. “Theo thông tin mới nhất từ phía các cơ quan chức năng, 17 ngư dân cùng tàu cá QB 93480 TS đã về đến Việt Nam an toàn. Hiện nay, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc vẫn đang tiếp tục yêu cầu phía Trung Quốc phải trả vô điều kiện tàu cá QB 93694 TS”, ông Bình cho hay. Cũng theo Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, việc các ngư dân Việt Nam có bị phía Trung Quốc ép ký vào các văn bản công nhận chủ quyền biển Đông, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc hay không, Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã chỉ đạo Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc làm rõ thông tin này với phía Trung Quốc. Từ đó, sẽ có những phản ứng phù hợp. Trước đó, ngày 16.6, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở tỉnh Quảng Bình có công văn gửi cơ quan chức năng về việc 2 tàu cá của tỉnh này bị Trung Quốc bắt giữ. Theo đó, Chi cục nhận được thông tin từ ông Trần Tiến Dũng (chủ tàu cá QB 93401TS, ở xã Quảng Phú, H.Quảng Trạch) báo cáo về việc 2 tàu cá QB 93480 TS (công suất 585 CV, có 8 thuyền viên; chủ tàu Võ Văn Toàn, 33 tuổi, cùng xã Quảng Phú) và QB 93694 TS (công suất 740 CV, có 9 thuyền viên; chủ tàu Võ Văn An, 39 tuổi, cùng xã Quảng Phú), xuất bến từ ngày 3.6, khi đang hoạt động tại vùng biển cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng trên 10 hải lý về phía tây nam thì bị 1 tàu hải quân và 3 tàu chụp mực của Trung Quốc xua đuổi, áp sát. Sau khi điều khiển tàu chạy thoát, ông Dũng không liên lạc được với 2 tàu trên. Từ khi mất liên lạc, trạm ở bờ không nhận được báo cáo vị trí của 2 con tàu kể trên gửi về nữa. Kiểm tra thông qua thiết bị kết nối vệ tinh lắp đặt trên tàu cá, Trung tâm thông tin kiểm ngư (Cục Kiểm ngư) xác định 2 tàu cá nói trên đang neo đậu tại vị trí thuộc cảng Tam Á của đảo Hải Nam. Xác định có thể 2 tàu đã bị phía Trung Quốc bắt giữ, Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn Quảng Bình đã có công văn đề nghị các cấp, ngành có biện pháp hỗ trợ 2 tàu cá. Ngày 23.6, Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Bình ký công văn gửi UBND tỉnh Quảng Bình, Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Tổng cục Thủy sản đề nghị tiếp tục có biện pháp hỗ trợ tàu cá QB 93694 TS đang bị Trung Quốc bắt giữ. Trở về từ Trung Quốc, hai chủ tàu QB 93964 TS và QB 93480 TS thông tin với Thanh Niên Online rằng, lực lượng chức năng Trung Quốc đã áp giải 2 tàu cá chạy về đảo Hải Nam neo đậu. Sau đó bắt các thuyền viên ký vào các tờ giấy chữ Trung Quốc, riêng anh An và anh Toàn liên tục bị bịt mặt đưa đi xét hỏi trong các phòng riêng biệt. Đặc biệt, có 1 lần, nhiều người mặc thường phục của Trung Quốc nói chỉ cần ký vào 1 tờ giấy thì sẽ được thả người và tàu về bình thường. Đến chiều 17.6, lực lượng Trung Quốc dồn tất cả thuyền viên 2 tàu lên tàu của anh Toàn rồi dắt ra ngoài biển xa thả về; còn tàu anh An và toàn bộ ngư lưới cụ, hải sản trên 2 tàu đều bị thu giữ. Rạng sáng 21.6, tàu anh Toàn cùng 17 thuyền viên về đến cửa Lạch Roòn.
Triển lãm về Hoàng Sa, Trường Sa
 

Sáng 22.6, Bộ Thông tin - Truyền thông, UBND tỉnh Nam Định đã họp báo về Triển lãm bản đồ và trưng bày tư liệu Hoàng Sa, Trường Sa của VN - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý. Triển lãm khai mạc vào hôm nay, 23.6, tại Bảo tàng tỉnh Nam Định (đường Cột Cờ, TP.Nam Định) và kéo dài đến hết ngày 27.6.

Triển lãm sẽ trưng bày nhiều nhóm tư liệu quý như phiên bản của các văn bản Hán Nôm, văn bản Việt ngữ và Pháp ngữ do triều đình phong kiến VN và chính quyền Pháp ở Đông Dương khẳng định quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; các châu bản triều Nguyễn ban hành liên quan trực tiếp đến vấn đề khai thác, quản lý, xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa dưới triều Nguyễn; bộ sưu tập gồm 65 bản đồ chứng minh chủ quyền của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do VN, phương Tây công bố từ thế kỷ 17 đến nay…
"Việt Nam phải tỉnh táo hơn nữa để không bị Trung Quốc ru ngủ"

“Việt Nam phải tỉnh táo hơn nữa để không bị Trung Quốc ru ngủ”

“Với Việt Nam, Trung Quốc luôn nhấn mạnh rằng, vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa chỉ là tiểu cục. Phải coi trọng đại cục mối quan hệ chứ đừng vì tiểu cục mà coi nhẹ đại cục”. Điều này không thể chấp nhận. Tin tức từ Tân Hoa xã ngày 16/6 cho hay, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Lục Khảng thông báo dự án bồi đắp phi pháp của nước này trên một số bãi đá (nằm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ…

View On WordPress

ông nội kể rằng người Việt mình còn nổi tiếng thế giới về cuộc chiến ở biển Đông năm 2018. Vietnam thể hiện quan điểm không liên minh quân sự với bất kỳ thế lực nào thể hiện mong muốn giữ vững chủ quyền. Chính quan điểm này khiến người Trung Quốc phải suy nghĩ lại và rút quân khỏi Trường Sa. Hoàng Sa chính thức là của người Trung Quốc. Ông Phùng Quang Thanh hồi đó được trao giải Nobel Hòa Bình vì những quyết định mang tính cá nhân giúp không làm căng thẳng việc tranh chấp, tránh một cuộc đổ máu lớn.