hoàng sa trường sa

Hòa nhạc gây quỹ tấm lòng vàng-Nghĩa tình Hoàng Sa -Trường Sa

Hòa nhạc gây quỹ tấm lòng vàng-Nghĩa tình Hoàng Sa -Trường Sa

Tập trung cho chủ đề nhạc phim, “Những giai điệu khó quên” mang đến cho khán giả những ca khúc, những bản hòa tấu trong những bộ phim nổi tiếng, một số nhạc phẩm kinh điển và quen thuộc với khán giả Việt Nam cũng như thế giới.

Người xem có dịp thưởng thức lại một loạt các tác phẩm đình đám một thời: “A time for us” (trong phim Romeo & Juliet), “Unchained melody” (phim The Ghost), “My heat will go…

View On WordPress

Cần nói rõ về Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam

- Đây không phải là việc làm vô căn cứ hay đứng về một quốc gia nào của những người ngoại quốc từng sinh sống tại nước ta, mà đó là sự đánh giá và phản ánh khách quan tình hình thực tế về việc thực hiện chủ quyền của chính quyền cụ thể trên Hoàng Sa Trường Sa.

Trong các sách chính sử của triều Nguyễn, hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa được phản ánh rất rõ ràng về chủ quyền của vương triều Nguyễn đối với hai quần đảo này. Điều đó được chứng minh bằng những việc làm cụ thể của vương triều Nguyễn. Không những các sách chính sử của triều Nguyễn, ngay cả những người ngoại quốc từng kinh qua nước ta thời kỳ bấy giờ cũng khẳng định hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Đại Việt. Điểm qua, chúng ta thấy rằng đây là những đánh giá rất khách quan và có tính chân thật lịch sử.
 

Đảo Đá Lớn. Ảnh: Bội Ngọc

Đầu tiên phải kể đến bộ “Hải ngoại Ký sự” viết năm 1696 của nhà sử học Thích Đại Sán, ông là một nhà sư đồng thời cũng là nhà sử học lỗi lạc của Trung Quốc. Dưới triều vua Khang Hy (nhà Thanh), ông đã đến Việt Nam và kinh lý vào vùng đất phía Nam dưới sự quản lý của chúa Nguyễn Phúc Chu. Thích Đại Sán được nhiều người biết đến khi có nhiều nghiên cứu quan hệ quốc tế của Đại Việt vào thế kỷ XV-XVII. Trong hành trình tại nước ta, Thích Đại Sán đã đi qua nhiều nơi và ghi lại những địa danh, trong đó có “Vạn lý Trường Sa”.

Trong quyển 3, bộ “Hải ngoại Ký sự”, Thích Đại Sán có chép một đoạn như sau: “Khách có người bảo mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng độ nửa tháng trước và sau ngày lập thu. Chừng ấy, gió Tây Nam thổi mạnh, chậy một lèo gió xuôi chừng 4-5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần thổi lên, nước chảy về hướng  Đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi dòng nước chảy mạnh về phía Đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn.

Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển,  chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam, động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành. Bãi cáy rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cây cỏ nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió trái nước dẫu không tan nát cũng không gạo, không nước thì trở thành ma đói mà thôi. Khoảng cách đến Đại Việt là 7 canh đường, 7 canh đường khoảng 700 dặm. Các quốc vương Đại Việt thời trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào. Mùa thu nước dòng cạn rút về hướng Đông bị một ngọn sóng đưa đi, thuyền có thể trôi xa hàng trăm dặm, gặp khi gió mạnh, càng sợ hiểm họa Hoàng Sa Trường Sa”.

Có thể thấy, Thích Đại Sán đã miêu tả rất rõ ràng về “Vạn lý Trường Sa”, ông cũng khẳng định đây là địa phận thuộc chủ quyền của Đại Việt. Một điều chắc chắn là ông không thể nhầm lẫn đến mức đem chủ quyền lãnh thổ của nước mình mà đưa vào địa phận nước khác. Cũng trong “Hải ngoại Ký sự”, Thích Đại Sán đã phản ánh chân thực những hoạt động của cư dân Đại Việt trong hoạt động ra khơi tại “Vạn lý Trường Sa”. Bên cạnh đó, tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước không có quần đảo nào ghi là Hoàng Sa Trường Sa . Tất cả các bản đồ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam biên giới phía Nam của Trung Quốc, Hoàng Sa Trường Sa không có trong nội hải của Trung Quốc.

Không chỉ Thích Đại Sán, mà một số người phương Tây đã từng sinh sống tại nước ta cũng có những ghi chép những vấn đề liên quan đến Hoàng Sa Trường Sa, nổi bật trong số ấy là Giám mục Jean Louis Taberd, ông là một Giám mục người Pháp từng làm thông dịch viên cho vua Minh Mạng. Trong quá trình sinh sống tại nước ta, Jean Louis Taberd đã đi qua nhiều nơi, chính vì vậy ông đã dựa trên các căn cứ lịch sử vẽ thành một bản đồ có tên là “An Nam Đại quốc họa đồ”. Bản đồ này được xuất bản năm 1838 và là công trình có tính đầy đủ nhất địa lý của nước ta thời kỳ bấy giờ, trong đó khẳng định Cát Vàng (Hoàng Sa) là Paracels nằm trong lãnh hải Việt Nam. “An Nam Đại quốc họa đồ” là một tài liệu phản ánh sự tổng kết những hiểu biết sâu sắc và chính xác của người phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX về mối quan hệ giữa quần đảo Hoàng Sa và nước Đại Việt mà tác giả gọi là An Nam Đại quốc. “An Nam Đại quốc họa đồ” là một minh chứng xác thực về chủ quyền của nước ta với quần đảo Hoàng Sa thời kỳ bấy giờ.

Paracels là địa danh mà người phương Tây chỉ quần đảo ở biển Đông suốt thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX chính là Cát Vàng hay Hoàng Sa của Việt Nam. Trong bản đồ này ghi chú là “Paracels Seu Cát Vàng”. Cũng trong “An Nam Đại quốc họa đồ”, tại khu vực biển Đông không thấy xuất hiện đảo Hải Nam hay bất cứ địa danh nào trên biển của Trung Quốc và các nước khác mà chỉ có các đảo của Việt Nam. Từ đó cho thấy đây là bản đồ phản ánh địa lý nước ta một cách chính thống. “Paracels Seu Cát Vàng” là một ghi chú và giải thích rất đầy đủ. Từ Seu (tiếng Latin) là “có nghĩa là”, “Cát Vàng” (tiếng Nôm) tức là Hoàng Sa (tiếng Hán Việt). Đó là phản ánh rất khách quan và chính xác của Jean Louis Taberd bởi ông không có ý thiên vị cho bất cứ một bên nào, đơn giản đó là sự nghiêm túc đối với công việc mà ông đang làm. Điều này phản ánh sự hiểu biết về Hoàng Sa của người phương Tây rất chính xác.

Không những vậy, Jean Louis Taberd cũng ghi chép rất rõ ràng về “Paracels Seu Cát Vàng”, trong đó ông đã ghi cụ thể như sau: “Chúng tôi không đi vào việc liệt kê những hòn đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa) gồm rất nhiều hòn đảo nhỏ chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát đã được người Việt xứ Đàng Trong khai thác. Địa thế này khiến những người đi biển phải kinh sợ”. Ngoài ra, còn một số tài liệu khác của người phương Tây phản ánh về vấn đề này: Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1920) đã khẳng định năm 1816 vua Gia Long đã xác lập chủ quyền trên quần đảo Paracels; The Jaumal of the Geographycal Societi of  London (năm 1849) của Gutzlaff ghi chép chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels;…

Từ những ghi chép và đánh giá của những người ngoại quốc từng kinh lý qua lãnh thổ nước ta cho thấy rằng, Hoàng Sa Trường Sa thuộc về chủ quyền của nước ta thời bấy giờ. Điều đó được thể hiện rõ ràng trong tác phẩm và ghi chép hành trình.

Trung Quốc lại lên kế hoạch mở tour du thuyền đến Hoàng Sa

(TNO) Trung Quốc lại lên kế hoạch tổ chức tour du lịch phi pháp bằng du thuyền cỡ lớn đến quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, China Daily ngày 27.7 cho hay.

Dẫn lời phát biểu của giới chức Trung Quốc, China Daily cho biết tour du lịch lần thứ 2 này sẽ được tổ chức trong năm nay nhưng không rõ vào khoảng thời gian nào của năm 2015. Trung Quốc đã thử nghiệm tour du lịch trên du thuyền Coconut Princess sức chứa 200 giường từ năm 2013. Coconut Princess là du thuyền loại lớn duy nhất mở tour loại này do công ty Hainan Strait Shipping điều hành. Tour du lịch đã thu hút hơn 10.000 khách du lịch đến các vùng trong Tam Sa Thị (cách gọi của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) tính đến nay, theo China Daily. Ông Xiao Jie, người phụ trách Tam Sa Thị được China Daily trích phát biểu cho biết, tour du lịch bằng tàu viễn dương nhằm phát triển du lịch ở Tam Sa, và tàu Coconut Princess không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách. Trong khi đó, Reuters cho hay Bắc Kinh hy vọng tour thứ 2 này sẽ đến nhiều đảo hơn trong khu vực, trong đó có đảo Phú Lâm, nơi Trung Quốc lập cơ quan hành chính bất hợp pháp để điều hành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Chi tiết về tour du lịch bằng tàu viễn dương mới chưa được Reuters và cả China Daily đề cập cũng như lộ trình, giá tour. Việt Nam nhiều lần lên tiếng phản đối việc tổ chức tour du lịch đến quần đảo Hoàng Sa mà không được sự đồng ý của Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc xâm chiếm hồi năm 1974. Năm 2014, Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 trên vùng biển Việt Nam. Hồi tháng 6.2015, Trung Quốc một lần nữa đưa giàn khoan này đến vùng biển Hoàng Sa để thăm dò.
Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam Và Mãi Như Thế


Việt Nam có đầy đủ những chứng cứ lịch sử xác định chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa. Cần nhanh chóng phổ biến những tài liệu đó ra cộng đồng quốc tế để tranh thủ sự ủng hộ của những người yêu chuộng hòa bình trên khắp năm châu và ngay tại chính Trung Quốc.

Ngay sau khi VnExpress đăng bài Bản đồ Trung Quốc ghi đảo Hải Nam là cực nam, đông đảo ý kiến của độc giả cho rằng cần nhanh chóng công bố tài liệu quan trọng này rộng rãi ra thế giới để chứng minh chủ quyền biển đảo của nước ta.

Độc giả Nguyễn Thiện Trường bày tỏ: “ Tôi vô cùng cảm ơn tiến sĩ Mai Hồng, tấm bản đồ cổ của nhà Thanh (Trung Quốc) do ông sưu tầm, gìn giữ và trao lại cho Bảo tàng Quốc gia Việt Nam là một tài sản vô giá, đây là báu vật quốc gia, cần phải bảo vệ, bảo quản giữ gìn nghiêm ngặt”.

“Kính đề nghị Nhà nước, Chính phủ cho phép và tạo mọi điều kiện để các cơ quan truyền thông công bố tấm bản đồ này cùng với nội dung của nó ra nhiều thứ tiếng. Cần khẩn trương đăng tải để không chỉ nhân dân Trung Quốc mà toàn thể thế giới biết được càng sớm càng tốt. Đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ của toàn thế giới đối với chúng ta. Cần in tấm bản đồ này kèm lời thuyết minh và gửi đến các tổ chức quốc tế càng sớm càng tốt”.

Còn bạn đọc Việt Hưng thốt lên: “Đây đúng là báu vật, tấm bản đồ là minh chứng hùng hồn, chứng minh rằng Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam. Nên công bố trên toàn thế giới bằng nhiều thứ tiếng”.

“Ngoài ra, cũng nên tranh thủ sự đóng góp của tất cả các nhà sưu tầm, nhà khoa học trên thế giới về những cứ liệu minh chứng Hoàng Sa Trường Sa của Việt nam” – độc giả này kêu gọi.

Độc giả Nguyễn Quang Huy thì cho rằng: “Hiện nay nhiều người dân Trung Quốc vẫn luôn nghĩ Trường Sa Hoàng Sa là của họ, vì vậy chúng ta cần nhanh chóng tuyên truyền sâu rộng khắp Trung Quốc để nhân dân của họ biết rõ. Vì tôi tin, người Trung Quốc họ cũng có trái tim và lý trí”.

Nhiều bạn đọc khác kiến nghị nên chụp tấm bản đồ này với độ phân giải cao và phổ biến trên Internet, bên cạnh đó chúng ta cũng phải dịch ra nhiều thứ tiếng để tất cả mọi người trên thế giới đều đọc được.

Độc giả Phạm Phú Quốc lại lo lắng cho sự an nguy của tấm bản đồ: “ Đây là một tài liệu quý giá, cần phải canh giữ nghiêm ngặt để tránh việc kẻ gian đánh cắp hoặc phá hỏng. Tấm bản đồ là chứng minh chủ quyền không thể chối cãi của nước ta đối với Hoàng Sa Trường Sa. Chúng ta cần phải công bố rộng rãi để nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới biết và ủng hộ”.

Bạn đọc Trần Thiên Ân - một sinh viên trẻ góp ý: “ Xin trân trọng cám ơn tiến sĩ đã có công sưu tầm và gìn giữ một tài liệu quý cho đất nước, cá nhân tôi mong muốn các tổ chức thanh niên, sinh viên liên kết với các viện bảo tàng giúp phổ biến hiện tình và các chứng cứ pháp lý để khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam”.

Lịch Sử Minh Chứng Hoàng Sa - Trường Sa Là Của Việt Nam

Nhiều sách địa lý, bản đồ và tài liệu cổ của Việt Nam ghi chép rõ Hoàng Sa Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam. 

Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Nghĩa, xứ Quảng Nam: “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng". “Họ Nguyễn”1 mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa mười tám chiếc thuyền đến lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”. 

Trong Giáp Ngọ bình nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam2

Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784) viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558 - 1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ lại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi. “Xã An Vĩnh”3, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có núi4 gọi là Cù Lao Ré rộng hơn 30 dặm5, có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hoá vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải". 

   Một chiếc thuyền mô phỏng thuyền của Đội Hoàng Sa thuở xưa, trưng bày tại Nhà trưng bày 
      Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).   Ảnh: Đặng Hải

Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam vẽ vào khoảng năm 1838, ghi “Hoàng Sa” – “Vạn Lý Trường Sa“ thuộc lãnh thổ Việt Nam. 

Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc sử quán nhà Nguyễn (1802 – 1845) soạn xong năm 18826 ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Nghĩa. Đoạn nói về hình thể tỉnh Quảng Nghĩa, cuốn sách viết: “Phía Đông có đảo cát - đảo Hoàng Sa - liền với biển làm hào; phía Tây là miền sơn man, có lũy dài vững vàng; phía Nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chặn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn”. 

Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam. 

Một giáo sĩ phương Tây đi trên tàu Amphitrile từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: “Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam”7

J.B. Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú thích bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine8 : “Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh”9… một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành…”10

Giám mục J.L. Taberd, trong bài “Ghi chép về địa lý nước Cochinchine” xuất bản năm 1837, cũng mô tả “Pracel hay Paracels" là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là “Cát Vàng"11. Trong An Nam đại quốc họa đồ xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi “Paracel hay Cát Vàng" (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay12

Trong bài “Địa lý vương quốc Cochinchina”13 của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là “Kát Vàng”. 

Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thập kỷ, nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hình và tài nguyên hai quần đảoHoàng Sa Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó. 

Trong Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII): “Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm14 đến cửa Sa Vinh15 mỗi lần có gió Tây Nam thương thuyền các nước đi ở phía ngoài trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó”16

Trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1776): “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi17 linh tinh hơn 130 hòn cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số tổ yến, các thứ chim có hàng ngàn hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh, trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc hoa thì có tai voi, to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được… Các thuyền ngoại phiên gặp bão thường bị hư hại18 ở đảo này… 

Đại Nam thực lục tiền biên, bộ sử về chúa Nguyễn do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1844, có đoạn viết: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích, v.v…”. 

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882): “Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông Cù Lao Ré huyện Bình Sơn, từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn 130 đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hoá vật của các tàu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở đấy". 

Theo Đại Nam thực lục chính biên, bộ sử về nhà Nguyễn soạn xong năm 1848, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đo đạc vẽ bản đồ Hoàng Sa trở về, đội trưởng giám Trương Phúc Sĩ đã tâu với Vua Minh Mệnh rằng Hoàng Sa “là những bãi cát giữa biển, man mác không bờ bến”19

Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự. 

Do đặc điểm của Hoàng Sa Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử, địa lý và tài liệu cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó. 

Trong Toản tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII): “Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”. 

Trong Phủ biên tạp lục (1776): “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu20 ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ở lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vàng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột ốc hoa, rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về ”…“ Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, Cù Lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hoá vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản". 

 

Thẻ tre, dây mây, bài gỗ, linh vị, chiếu cói của các binh phu Hoàng Sa thuở xưa, trưng bày
 tại Nhà trưng bày Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi)
Ảnh: Đặng Hải

Trong Đại Nam thực lục tiền biên (1844): “Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm đi đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có độ Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh di thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”. 

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa. Trong số tư tiệu còn tìm thấy ngày nay, có thể kể tờ sai sau đây đề năm 1786 của quan Thượng tướng công: “Sai cai Hội Đức Hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác21, đồi mồi, hải ba cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”. Nghĩa là thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc khai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa. 

Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đại Nam thực lục chính biên (1848) chép rõ một số việc làm của các vua nhà Nguyễn củng cố chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo như sau: 

Năm 1815, vua Gia Long “cử Phạm Quang Ảnh dẫn đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển”22

Năm 1816, vua Gia Long “lệnh cho thuỷ quân cùng đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa để khảo sát và đo đạc đường biển”23

Năm 1833, vua Minh Mệnh chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị thuyền để năm sau sẽ phái tới Hoàng Sa dựng miếu, lập bia, trồng nhiều cây cối24

Năm 1834, vua Minh Mệnh cử đội trưởng giám thành Trương Phúc Sĩ cùng thuỷ quân hơn 20 người ra Hoàng Sa vẽ bản đồ 25

Năm 1835, vua Minh Mệnh sai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính và thợ giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định chuyên chở vật liệu đến Hoàng Sa dựng miếu. Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây bình phong26

Năm 1836, chuẩn y lời tâu của Bộ Công, vua Minh Mệnh sai suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ. Yêu cầu của công việc đo đạc, vẽ bản đồ đã được Đại Nam thực lục chính biên ghi lại rất chi tiết: “Không cứ là đảo nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào phải tường tận đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng là vào tỉnh hạt nào, phương nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình”27.

          Tượng đài Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). 
                                                             Ảnh: Đặng Hải

Đại Nam thực lục chính biên cũng chép rõ những bài gỗ mà Phạm Hữu Nhật mang theo để làm dấu chủ quyền đối với những nơi đã đến theo lệnh của nhà vua khắc những chữ sau đây: “Năm Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân (1836), thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”. 

Các vua Nguyễn không phải chỉ lo đến chủ quyền và quyền lợi của nước mình ở hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, mà còn lo bảo đảm an toàn cho tàu thuyền nước ngoài qua lại vùng biển của hai quần đảo đó. Năm 1833, vua Minh Mệnh bảo Bộ Công rằng: “Trong hải phận Quảng Nghĩa có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dư bị thuyền mành đến sang năm sẽ phái người tới đó… trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt người dễ nhận biết, có thể tránh được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”28. Đó chính là ý thức trách nhiệm cao của một Nhà nước thật sự làm chủ quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đối với hàng hải quốc tế trong khu vực này. 

Như vậy, qua các sách lịch sử, địa lý và tài liệu cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây nói trên, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, hòa bình và liên tục. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc. Điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam. 

Nhiều bằng chứng chứng minh Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam

Bức xúc của một nhà khoa học trước việc Trung Quốc bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa Trường Sa.

Quyết định của Quốc vụ viện Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo, trong đó có quần đảo Tây Sa và Nam Sa, tức Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam, là hành động ngang ngược, bất chấp lẽ phải, chà đạp lên sự thật lịch sử về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo ấy.

Luận điểm đầu tiên của chính quyền tỉnh Quảng Đông khi công khai khảo sát Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa vào năm 1909, là cho rằng quần đảo “Tây Sa” là đất vô chủ (res nullius), hải quân tỉnh Quảng Đông cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát súng đại bác tại một số đảo ở Hoàng Sa năm 1909.

Sau khi dùng vũ lực một cách bất hợp pháp cưỡng chiếm Hoàng Sa Trường Sa vào trung tuần tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã cố gắng tìm kiếm tài liệu để cố gán ghép bằng cách cắt xén, nếu cần thì xuyên tạc với sự đóng góp của các nhà học giả như Sử Lệ Tổ đưa ra luận điểm cho rằng “các đảo Nam Hải từ cổ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc”, do nhân dân Trung Quốc “phát hiện sớm nhất”, “kinh doanh sớm nhất”, do chính phủ các triều đại Trung Quốc “quản hạt sớm nhất” và viện dẫn nhiều tài liệu lịch sử mang tính suy diễn để dẫn chứng (Quang Minh Nhật Báo, 24-11-1975).

Có rất nhiều bản đồ chính thức của Trung Quốc từ đời Nguyên, Minh đến Thanh, trong đó có bản đồ ấn bản gần thời điểm có tranh chấp như bản đồ Đại Thanh Đế Quốc trong Đại Thanh Đế Quốc toàn đồ, xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 đã vẽ cực nam của lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, không vẽ bất cứ hải đảo nào khác ở biển Đông.

Bản đồ Hoàng Triều Nhất Thống dư địa tổng đồ trong cuốn Hoàng Thanh Nhất Thống dư địa toàn đồ xuất bản năm Quang Tự 20 (1894) đã ghi rõ cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông ở 18 độ 30 phút Bắc, trong khi Tây Sa hay Hoàng Sa được Trung Quốc đặt tên, có đảo ở vị trí cao nhất là 17 độ 5 phút. Điều này chứng tỏ Tây Sa hay Hoàng Sa chưa hề là lãnh thổ của Trung Quốc.

Trong khi đó, ngay tài liệu của chính người Trung Quốc như Hải Ngoại Ký Sự của Thích Đại Sán đã cho biết Chúa Nguyễn sai thuyền khai thác các sản vật từ các tàu bị đắm ở Vạn Lý Trường Sa, tức Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã xuất hiện liên tục qua các đời: từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rõ ràng.

Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ còn lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, năm 1686, trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ bản đồ và Phủ Biên Tạp Lục,năm 1776 của Lê Quý Đôn.

Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rõ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở Bãi Cát Vàng. Còn tài liệu trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Dư Địa Chí trong bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn cuối thế kỷ XVIII.

Đại Nam Thực Lục phần tiền biên, quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.

Đại Nam Thực Lục Chính biên đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa Trường Sa.

- Tài liệu rất quí giá là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta tìm thấy những bản tấu, phúc tấu của các đình thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc vãng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám, sau đó lại tiếp tục.

- Trong bộ sách Đại Nam Nhất Thống Chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngãi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…

Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ Bãi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.

Bản đồ cổ phương Tây khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Khẳng định chủ quyền Việt Nam

TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội TP Đà Nẵng vừa hoàn thành đề tài Font tư liệu về chủ quyền Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa Trường Sa

TS. Sơn cho hay: Không chỉ các bản đồ cổ Việt Nam, Trung Quốc mà rất nhiều bản đồ cổ của phương Tây đều khẳng định Hoàng Sa Trường Sa là củaViệt Nam.

Một trong những thành công lớn của nhóm nghiên cứu là sưu tầm được 56 tấm bản đồ phương Tây của font tư liệu này.

Các bản đồ này được vẽ rất sớm, như: Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ có niên đại vào nửa sau thế kỷ XVI… cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ XIX như: Bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891…

Tất cả đều thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền củaViệt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine… (tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây).

Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa Trường Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 thể hiện quần đảo Frael (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.

Trong bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645, quần đảo Frael (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo: Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong)…

Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ: Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam.

Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng khẳng định: Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (Giao Chỉ gần Chi na, chỉ tên nước ta), TS. Sơn phân tích.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, hiện sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đặc biệt từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ.

Theo TS. Sơn, 56 bản đồ cổ phương Tây này được sưu tầm có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ.

Điều này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…).

“Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý… phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ. Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền” - ông Sơn nói.

Trung Quốc chưa bao giờ có Hoàng Sa Trường Sa

An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838.

Theo TS. Sơn, nhiều tấm bản đồ cổ phương Tây đang được lưu giữ tại các thư viện công và bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu và châu Mỹ. Trong đó phần lớnbản đồ mà nhóm nghiên cứu đề tài sưu tầm đều là bản đồ scan trực tiếp từ bản đồ gốc được đồng nghiệp là ông Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa giáo dụcViệt Nam (IVCE) tại Mỹ, đến các thư viện tại Mỹ để tìm kiếm, xin phép scan…

Qua ông Thắng, TS. Sơn vừa có thêm nhiều tấm bản đồ cổ của phương Tâyxuất bản trước và sau khi chính quyền Trung Quốc có những tuyên bố bất hợp pháp về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam vào năm 1909.

Trong số này có bản đồ China do Adam và Charles Black vẽ cho bộ sách The Encyclopaedia Britannica, do Nxb. Edinburgh ấn hành năm 1876, bản đồChina, ấn hành năm 1883, bản đồ China and Japan, ấn hành năm 1896; bản đồSiam and the Malay Archipelago do The Times Atlas (London, Anh) xuất bản năm 1896, bản đồ Route map showing from St. Petersburg to Guft of Tongking, ấn hành năm 1900…

“Điểm giống nhau giữa các bản đồ này là phần lãnh thổ Trung Quốc được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng của Trung Quốc, luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam. Khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa Trường Sa” - TS. Sơn nhấn mạnh.

Thêm Bằng Chứng Lịch Sử Hoàng Sa - Trường Sa Là Của Việt Nam
Những minh chứng chứng minh Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam Như chúng ta đã biết, ngày 25/7/2012, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã tiếp nhận tấm bản đồ cổ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do nhà Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm 1904 của Tiến sĩ Mai Ngọc Hồng trao tặng. Bản đồ này xác định đảo Hải Nam là điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc, có nghĩa là thừa nhận các quần đảo ở Biển Đông nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Để góp phần củng cố thêm cho luận điểm này, chúng tôi xin giới thiệu hình ảnh một số bản đồ Trung Quốc do người Trung Hoa và Nhật Bản vẽ và ấn hành từ năm 1850 đến năm 1939, trong đó chưa từng xác nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc. Một số bản đồ chúng tôi đã xác định được đầy đủ các thông tin về tác giả, nhà xuất bản, nơi xuất bản…, số còn lại chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm.

Bản đồ có tên “Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ” (二 京 十八省 總圖) trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ” (清二京十八省疆域全圖) in năm 1850.

Quảng Đông toàn đồ (廣東全圖)- Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là đảo Hải Nam trong sách Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ” (清二京十八省疆域全圖) in năm 1850.

“Đại Thanh đế quốc” (大清帝國) trong sách “Thanh đại địa đồ tập”, Thanh Quang Tự tam thập nhất niên (1905), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán biên ấn xuất bản (清代地图,清光绪三十一年(1905年,上海商务印书馆编印出版)

“Đại Thanh quốc toàn đồ” (大清國全圖) trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖), Tác giả: Y Điền Hùng Phủ (依田雄甫), Nhà xuất bản: Đông Kinh (Tokyo), Phú Sơn Phòng thư cục (東京:富山房書局), Năm xuất bản: Nhật Bản Minh Trị tứ thập niên ngũ nguyệt (日本明治四十年五月) (5-1907)

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với đảo Hải Nam trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” (大清帝國分省精圖)

Bản đồ có tên “Đại Thanh đế quốc” (大清帝國) trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành (大清帝國全圖, 宣統元年,上海商務印書館)

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam của nó là đảo Hải Nam, trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành (大清帝國全圖, 宣統元年,上海商務印書館)

Bìa cuốn sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, Tuyên Thống nguyên niên (1908), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành” (大清帝國全圖, 宣統元年上海商務印書館)

Bản đồ có tên “Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú” (清國大地圖革命動亂地點注), Đại Bản (Osaka) Nhật Bản Tinh Bản ấn loát hợp tư hội xã phát hành, Minh Trị tứ thập tứ niên (大阪日本精版印刷合資會社印行, 明治 四十四年) - Bản đồ do người Nhật vẽ năm 1912 với cực Nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, hiện lưu trữ tại Thư viện Đại học California tại Berkeley

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ (中華新形勢一覽圖), tác giả: Thượng Ngu, Đồ Tư Thông  (上虞, 屠思聰),Thượng Hải Thế giới dư địa học xã (上海世界輿地學社) phát hành năm 1926Bản đồvẽ cực Nam Trung Quốc đến tỉnh Hải Nam

Bìa cuốn sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ (中華新形勢一覽圖) của hai tác giảThượng Ngu và Đồ Tư Thông  (上虞, 屠思聰), Thượng Hải Thế giới dư địa học xã (上海世界輿地學社) phát hành năm 1926

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa Dân quốc phân tỉnh địa đồ sách” (中華民國分省地圖冊) xuất bản năm 1933

“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách “Trung Hoa Dân quốc nhị thập tứ niên (1935) toàn quốc tỉnh khu” (中華民國二十四年全國省) cũng vẽ cực Nam Trung Quốc đến hết đảo Hải Nam

Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” (中華民國全圖), trong sách Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ ” (最新中華形勢一覽圖) in năm 1935

Bìa cuốn sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ” (最新中華形勢一覽圖) in năm 1935

Bản đồ có tên “Đại lục hình thế đồ” trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” (中國地圖冊) xuất bản năm 1939, Tác giả: Tùng Điền Thọ Nam (松田壽男) vẽ cực Nam Trung Quốc chỉ đến hết đảo Hải Nam

Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” (中國地圖冊), xuất bản năm 1939 Tác giả: Tùng Điền Thọ Nam (松田壽男)
Qua Những Hình ảnh và minh chứng trên chứng tỏ Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam

Hình ảnh và chú thích: Chử Đình Phúc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Mối nguy hiểm của Trung Quốc ở Hoàng Sa
Trung Quốc khởi công hàng loạt công trình phi pháp trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, trong đó có một trung tâm chỉ huy liên thủ phòng ngự.

Những diễn biến đáng lo ngại ở Trường Sa phần nào khiến cộng đồng quốc tế ít chú ý đến tình trạng nguy hiểm không kém đang diễn ra tại quần đảo Hoàng Sa, cụ thể là ở đảo Phú Lâm. Nơi này bị Trung Quốc phù phép thành thủ phủ của cái gọi là “thành phố Tam Sa” để đơn phương tuyên bố quyền quản lý đối với cả Hoàng Sa và Trường Sa. Từ năm 2012 đến nay, chính quyền Bắc Kinh liên tục cho xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng phi pháp ở Phú Lâm và không giấu giếm ý định xây dựng Hoàng Sa thành căn cứ quân sự cùng với củng cố tổ chức hành chính để tạo cơ sở chiếm đoạt vĩnh viễn quần đảo này và tiến tới thôn tính nốt Trường Sa. “Chuẩn bị chiến tranh” Mới đây nhất, Nhân Dân nhật báo đưa tin “lãnh đạo thành phố Tam Sa” ngày 25.7 ngang nhiên cho khởi công một trại giam mới và Trung tâm chỉ huy liên thủ phòng ngự ở Phú Lâm. Trung Quốc không công bố rõ chi tiết nhưng truyền thông nước này khoe rằng trung tâm nói trên sẽ đóng vai trò điều hành hoạt động “phòng thủ phối hợp” giữa quân đội, cảnh sát và ngư dân đang đồn trú phi pháp trên các đảo ở khu vực. Cơ sở này cũng là nơi huấn huyện, tích trữ vật tư chuẩn bị cho khả năng xảy ra chiến tranh trong tương lai. Trung tâm sẽ “nâng cao khả năng chỉ huy phối hợp hiệp đồng giữa dân, cảnh sát và quân khu Tam Sa, tăng cường phòng thủ khu vực biển gần” để bảo vệ cái gọi là quyền và lợi ích hải dương của Trung Quốc, theo Nhân Dân nhật báo. Hồi năm 2012, Tân Hoa xã từng dẫn lời chuyên gia Bạch Tú Lan của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng trung ương Trung Quốc cho rằng Tam Sa cần được tập trung đầy đủ cả hải, lục, không quân, biến nơi đây thành tiền đồn quân sự. Đáng quan ngại hơn, theo chuyên gia Bạch, đảo Phú Lâm có thể bị biến thành địa điểm trung chuyển, tiếp vận cho tàu chiến, máy bay từ đảo Hải Nam, phục vụ mưu đồ kiểm soát cả khu vực Biển Đông. Về trại giam mới trên đảo Phú Lâm, Nhân Dân nhật báo đưa tin cơ sở này gồm 2 tòa nhà 3 tầng, có thể giam giữ tới 56 người. “Phó thị trưởng Tam Sa” Phùng Văn Hải lên giọng nhấn mạnh trụ sở giam giữ là nhằm giữ gìn xã hội ổn định, bảo vệ vững chắc vùng biển… Thực chất, ai cũng biết Hoàng Sa và vùng phụ cận là phần không thể tách rời của Việt Nam, là ngư trường truyền thống bao đời nay của ngư dân ta. Chỉ có các lực lượng chấp pháp trên biển của Trung Quốc thường xuyên bắt giữ trái phép tàu cá và ngư dân Việt Nam hoạt động ở Hoàng Sa. Từ đó, có thể thấy ý đồ “bảo vệ vững chắc vùng biển” của trại giam kia là nhằm vào ai. Củng cố hạ tầng phi pháp Ngày 26.7, đến lượt Tân Văn xã, hãng thông tấn lớn thứ 2 của Trung Quốc, khoe rằng nhằm đánh dấu 3 năm thành lập “thành phố Tam Sa”, giới chức Trung Quốc hồi cuối tuần đưa vào sử dụng nhiều công trình dân sự mới trên đảo Phú Lâm. Thứ nhất là công trình lắp đặt, bố trí cầu cảng bao gồm kho trữ lạnh, cột hướng dẫn tàu bè, kho vật tư ngư nghiệp… Theo Tân Văn xã, công trình này sẽ giúp “tăng cường khai thác, bảo vệ tài nguyên và tàu bè của ngư dân Trung Quốc” hoạt động ở Biển Đông. Thứ hai là Trung tâm dự trữ vật tư ứng cấp có thể trữ lạnh tới 150 tấn hàng phục vụ những người đang sinh sống trái phép trên đảo. Ngoài ra, “chính quyền Tam Sa” đưa vào hoạt động nhà máy xử lý nước thải và trạm thu gom vận chuyển rác thải quần đảo Tây Sa (tên Trung Quốc gọi Hoàng Sa - NV). Những diễn biến nói trên chứng tỏ Trung Quốc vẫn bất chấp dư luận và pháp lý, vi phạm chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa và Trường Sa để ra sức hợp lý hóa “thành phố Tam Sa”. Thực tế, không ai công nhận thực thể hành chính phi pháp này và bằng chứng mới nhất là Google Maps hồi giữa tháng 7 đã loại bỏ tên phiên âm của “thành phố Tam Sa” là “Sansha” ra khỏi hệ thống tìm kiếm của dịch vụ này.
Lịch sử không quên những bi hùng của dân tộc
Không chỉ chăm lo cho gia đình thân nhân liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, năm 2015, Tổng liên đoàn Lao động (LĐLĐ) VN đã khởi công đặt viên đá xây dựng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma. Đến năm 2016, Tổng LĐLĐ VN sẽ tiếp tục xây dựng “Khu tưởng niệm Hoàng Sa” để tưởng nhớ những người con đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc.

Nhân kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27.7), PV Thanh Niên đã phỏng vấn Chủ tịch Tổng LĐLĐ VN Đặng Ngọc Tùng về các hoạt động có ý nghĩa trên. Thưa ông, chương trình “Nghĩa tình Hoàng Sa, Trường Sa” do Tổng LĐLĐ VN phát động, trong đó có dự án xây dựng Tượng đài tưởng niệm các chiến sĩ đã chiến đấu trong trận hải chiến Gạc Ma đang được dư luận xã hội và đông đảo tầng lớp nhân dân nhiệt tình ủng hộ. Từ đâu, Tổng LĐLĐ VN có ý tưởng xây dựng công trình này? Cuối năm 2009 đầu năm 2010, khi đánh bắt cá ở ngư trường truyền thống Hoàng Sa, ngư dân ta thường bị phía Trung Quốc (TQ) bắt, phải đóng tiền chuộc lại tàu thuyền mới được thả, hoặc bị thu cá, thu lưới, thu ngư cụ. Thấu hiểu nỗi khó khăn, vất vả, Tổng LĐLĐ VN chủ trương thành lập các nghiệp đoàn nghề cá, đồng thời phát động chương trình “Tấm lưới nghĩa tình vì ngư dân Hoàng Sa, Trường Sa” nhằm kêu gọi các cấp công đoàn, đoàn viên, công nhân viên chức lao động, các tổ chức, cá nhân ủng hộ tài chính, vật chất để hỗ trợ cho các nghiệp đoàn nghề cá và ngư dân… mua lại trang thiết bị, sửa chữa tàu thuyền tiếp tục ra khơi bám biển. Tiếp nối thành công trên, năm 2014, Tổng LĐLĐ VN đã phát động chương trình “Nghĩa tình Hoàng Sa, Trường Sa”, kêu gọi ủng hộ thân nhân và gia đình các liệt sĩ Trường Sa, thân nhân những người đã ngã xuống khi tham gia bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 đang gặp khó khăn trong cuộc sống và hỗ trợ các lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư đang làm nhiệm vụ trên Biển Đông. Đặc biệt, để tỏ lòng thành kính và biết ơn các anh hùng liệt sĩ hải quân, góp phần giáo dục bồi đắp lòng yêu nước, ý chí bất khuất, quật cường của dân tộc VN trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, Tổng LĐLĐ VN chủ trương xây dựng Khu tưởng niệm các chiến sĩ Gạc Ma đã chiến đấu trong trận hải chiến Gạc Ma. Sau khi thống nhất với Bộ LĐ-TB-XH, T.Ư Đoàn, ngày 13.3.2015, Tổng LĐLĐ VN phối hợp UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ đặt viên đá xây dựng Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma tại khu Bắc bán đảo Cam Ranh (Khánh Hòa). 27 năm sau trận chiến, chúng ta mới có một công trình tưởng niệm tri ân các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh tại Gạc Ma, phải chăng là quá muộn? Do những điều kiện hoàn cảnh lịch sử, nên 27 năm qua chúng ta vẫn chưa xây dựng một công trình tưởng niệm tri ân các anh hùng liệt sĩ bảo vệ chủ quyền biển đảo. Do đó, theo tôi, muộn còn hơn là không bao giờ hoặc không dám thực hiện một việc cần làm như vậy. Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma tại Cam Ranh, Khánh Hòa nhằm tri ân và ghi công các liệt sĩ đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Gạc Ma ngày 14.3.1988.

Bất cứ ai ngã xuống vì chiến đấu bảo vệ biển đảo Tổ quốc đều đáng vinh danh và được tưởng nhớ công ơn cho dù họ là các chiến sĩ hy sinh trong trận chiến Gạc Ma 1988 hay các cựu binh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974. Có ý kiến cho rằng nên đổi thành khu tưởng niệm các liệt sĩ bảo vệ chủ quyền Biển Đông, ông nghĩ sao về ý kiến này? Tôi nghĩ rằng không nên đổi tên thành Khu tưởng niệm các liệt sĩ bảo vệ chủ quyền Biển Đông vì tên gọi Khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma được gắn liền với sự kiện lịch sử không thể nào quên, đó là ngày 14.3.1988 Trung Quốc đưa quân xâm chiếm đảo Gạc Ma. Mặt khác, sắp tới đây, ngày 19.1.2016 đúng vào dịp kỷ niệm 42 năm Trung Quốc đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và 74 binh sĩ hải quân VN Cộng hòa đã vĩnh viễn nằm lại tại vùng biển này, chúng tôi sẽ đặt viên đá xây dựng Khu tưởng niệm Hoàng Sa để thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và giáo dục thế hệ trẻ vì sự kiện không thể nào quên của trận hải chiến Hoàng Sa. Tổng LĐLĐ VN phát động chương trình “Nghĩa tình Hoàng Sa, Trường Sa” nhằm tri ân các chiến sĩ đã ngã xuống vì Hoàng Sa, Trường Sa, để lịch sử không quên những bi hùng của dân tộc, cũng là dịp để chúng ta tôn vinh những người con đất Việt đã anh dũng hy sinh bảo vệ Tổ quốc. Xin cảm ơn ông!